🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 49,3 tỷ USD sau 8 tháng

22 phút trước
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản (NLTS) tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong 8 tháng đầu năm 2026, với tổng giá trị ước đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước.

Theo số liệu do Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa công bố, giá trị xuất khẩu NLTS tháng 8/2026 của Việt Nam ước đạt 6,47 tỷ USD, giảm 3,5% so với tháng trước nhưng tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu NLTS ước đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất đạt 2,61 tỷ USD, tăng 64,8%; giá trị xuất khẩu muối đạt 10,4 triệu USD, tăng 44,4%.

Châu Á tiếp tục giữ vị trí thị trường xuất khẩu NLTS lớn nhất của Việt Nam, chiếm 45,5% thị phần. Trong 8 tháng, xuất khẩu NLTS sang khu vực này tăng 11,3% so với cùng kỳ. Châu Mỹ chiếm 21,5%, tăng 0,6%; châu Âu chiếm 13,4%, tăng 1,7%; châu Đại Dương chiếm 1,5%, nhưng tăng tới 16,4%. Riêng châu Phi giảm 18,3%.

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 49,3 tỷ USD sau 8 tháng. Ảnh minh họa

Xét theo từng thị trường, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục là 3 thị trường lớn nhất, với thị phần lần lượt 22,7%, 19,1% và 6,8%. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 22,1%, Nhật Bản tăng 2%, trong khi Hoa Kỳ giảm nhẹ 0,4%.

Trung Quốc cũng là thị trường nổi bật đối với nhiều mặt hàng. Xuất khẩu rau quả sang thị trường này tăng 33,1% trong 7 tháng đầu năm; thủy sản tăng 37,1%; hạt điều tăng 18,3%. Ngược lại, cao su xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 20,3%, cho thấy diễn biến giữa các nhóm hàng vẫn có sự phân hóa rõ rệt.

Rau quả tiếp tục là một trong những điểm sáng của xuất khẩu NLTS. Tháng 8, kim ngạch xuất khẩu rau quả ước đạt 1,24 tỷ USD, đưa tổng giá trị 8 tháng lên 6,02 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc chiếm tới 58,9% thị phần, tiếp đến là Hoa Kỳ 7,6% và Hàn Quốc 4,2%.

Thủy sản cũng duy trì đà tăng trưởng tích cực với kim ngạch 8 tháng đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%. Riêng tháng 8 đạt khoảng 1,08 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường lớn nhất với 24% thị phần, tiếp đến là Hoa Kỳ 15,6% và Nhật Bản 13,7%.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, kim ngạch 8 tháng đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 139,3 triệu USD, tăng 79,2%; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ đạt 154,1 triệu USD, tăng 15,2%.

Hạt tiêu cũng ghi nhận kết quả tích cực khi lượng xuất khẩu 8 tháng đạt 190,1 nghìn tấn, trị giá 1,24 tỷ USD, tăng lần lượt 14,5% và 9,6%. Giá xuất khẩu bình quân đạt 6.513,8 USD/tấn.

Ở chiều ngược lại, cà phê, cao su, gạo và chè đều ghi nhận sự sụt giảm về giá trị xuất khẩu trong 8 tháng.

Xuất khẩu cà phê đạt 1,3 triệu tấn, trị giá khoảng 6 tỷ USD, tăng 13,1% về lượng nhưng giảm 9,1% về giá trị. Gạo cũng chịu sức ép đáng kể. 8 tháng, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo, trị giá 2,86 tỷ USD, giảm 6,3% về lượng và 11,9% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân đạt 480,9 USD/tấn, giảm 6%.

Tương tự, xuất khẩu chè đạt 77 nghìn tấn, trị giá 142,8 triệu USD, giảm 10,2% về lượng và 2% về giá trị.

Đáng chú ý, một số mặt hàng vẫn tăng giá trị dù lượng xuất khẩu giảm. Hạt điều là một ví dụ khi lượng xuất khẩu giảm 1,7%, xuống 474 nghìn tấn, nhưng kim ngạch vẫn tăng 2%, đạt 3,35 tỷ USD. Giá xuất khẩu bình quân tăng 3,7%, lên 7.058 USD/tấn.

Sắn và các sản phẩm từ sắn cũng giảm 19,7% về lượng nhưng chỉ giảm 2,5% về giá trị, nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng 21,3%.

Nam Khánh

TIN LIÊN QUAN














































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ