🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Đừng để nguyên liệu trở thành 'điểm nghẽn' của xuất khẩu nông sản

7 giờ trước
Nông sản xuất khẩu ngày càng nhiều, nhưng nghịch lý là nguyên liệu vẫn có thể trở thành điểm nghẽn, trong khi nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Kim ngạch gần 42,6 tỷ USD trong 7 tháng 2026 càng đặt ra câu hỏi: làm sao để nguyên liệu Việt không chỉ đi xa, mà còn giữ lại nhiều hơn giá trị trong nước?

Mới đây, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn lại thông tin từ các đơn vị kinh doanh sắn lát và diễn biến thị trường, cho biết nguồn nguyên liệu sắn củ tươi trong nước được dự báo thiếu hụt khi bước vào vụ sản xuất 2026-2027. Trong khi đó, giá tinh bột sắn tăng và duy trì ở mức cao khiến các doanh nghiệp (DN) sắn lát khô phải cạnh tranh gay gắt để có cùng một nguồn nguyên liệu là củ sắn tươi.

Xuất khẩu tăng nhưng nguồn nguyên liệu chưa ổn định

Diễn biến này chỉ ra một nghịch lý đáng chú ý: Việt Nam có vùng trồng, có nhà máy, có thị trường xuất khẩu nhưng nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến vẫn chưa thật sự ổn định.

Tổ chức lại vùng nguyên liệu, tăng liên kết và đẩy mạnh chế biến sâu là hướng giữ lại nhiều hơn giá trị cho nông sản Việt.

Nghịch lý càng rõ qua số liệu xuất khẩu (XK). Tính riêng nửa đầu năm 2026, Việt Nam XK hơn 841 nghìn tấn sắn nguyên liệu, thu về 196,7 triệu USD. Trong khi đó, XK các sản phẩm từ sắn giảm 27,1% về lượng và 8,5% về giá trị.

Vấn đề vì thế không chỉ nằm ở giá sắn. Nhà máy muốn vận hành ổn định phải có nguồn cung đủ lớn, chất lượng đồng đều và dự báo được. Khi vùng nguyên liệu phân tán, liên kết ngắn, DN phải chạy gom khi thiếu hàng. Chi phí tăng, dư địa đầu tư chế biến sâu cũng hẹp lại.

Điểm nghẽn không nằm đơn thuần ở diện tích vùng trồng, mà ở khả năng biến vùng trồng thành nguồn cung công nghiệp. Câu chuyện sắn cũng phản chiếu một vấn đề rộng hơn. Tính đến hết tháng 7/2026, XK nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 42,6 tỷ USD, tăng khoảng 7% so với cùng kỳ năm 2025 và đạt 57,6% kế hoạch năm.

XK càng lớn, nhu cầu nguyên liệu càng cao. Nếu nguồn cung trong nước không ổn định, DN sẽ phải cạnh tranh đầu vào hoặc tăng nhập khẩu.

Tại hội nghị về xuất khẩu nông sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức mới đây ở Tp.HCM, ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, cho biết nửa đầu năm nay, nông, lâm, thủy sản vẫn xuất siêu 9,2 tỷ USD. Tuy nhiên, mức xuất siêu giảm 7,7% so với cùng kỳ do nhập khẩu tăng nhanh hơn XK.

Riêng nhóm nông sản chỉ xuất siêu 1,51 tỷ USD, giảm 60,6%. Một nguyên nhân được chỉ ra là kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu tăng mạnh. Nghịch lý vì thế không còn nằm riêng ở sắn. Trong nước có vùng nguyên liệu nhưng nhà máy vẫn lo thiếu đầu vào. Ở quy mô toàn ngành, nhập khẩu nguyên liệu lại tăng.

Xuất khẩu nông sản tăng nhưng nguồn nguyên liệu trong nước chưa ổn định. Chi phí đầu vào cao, nhập khẩu nguyên liệu tăng đang gây sức ép lên sức cạnh tranh.

Không phải mọi nguyên liệu nhập khẩu đều bất lợi. Sản xuất hiện đại vẫn cần nhập những nguyên liệu trong nước chưa có lợi thế hoặc chưa đáp ứng đủ yêu cầu. Điểm đáng lo là khi nguyên liệu Việt có lợi thế nhưng chưa được tổ chức tốt, doanh nghiệp vừa thiếu nguồn cung trong nước, vừa phải tìm nguồn từ bên ngoài. Khi đó, Việt Nam có thể xuất nguyên liệu ở khâu giá trị thấp, rồi nhập đầu vào cho chế biến. Phần giá trị cao hơn lại được tạo ra ở nơi khác.

Áp lực này cũng đang hiện rõ ở ngành thủy sản. Ông Đỗ Ngọc Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (Vasep), cho biết nhiều khách hàng đã mua hàng Việt Nam trong nhiều năm và tin tưởng hệ thống quản lý chất lượng của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu giá nguyên liệu trong nước quá cao, DN khó cạnh tranh về giá.

Theo ông Tài, để duy trì tăng trưởng hai con số từ năm 2026, ngành thủy sản cần sớm tháo gỡ các nút thắt về nguồn nguyên liệu. Dù có lợi thế sản xuất, nuôi trồng thủy sản đang chịu sức ép từ chất lượng con giống, dịch bệnh, giá thức ăn và nhiều chi phí đầu vào. Mặt bằng chi phí cao khiến sản phẩm Việt khó cạnh tranh về giá với các quốc gia khác.

Như vậy, bài toán nguyên liệu không chỉ là thiếu hay đủ. Nguyên liệu còn phải có chất lượng ổn định, giá thành hợp lý và nguồn cung có thể dự báo. Nếu không, lợi thế về thị trường và chất lượng cũng khó chuyển thành lợi thế cạnh tranh.

Tổ chức lại để giữ giá trị

Theo giới chuyên gia, giải pháp không phải mở rộng diện tích bằng mọi giá, mà tổ chức lại vùng nguyên liệu theo nhu cầu chế biến. DN phải tham gia từ đầu. Xác định thị trường cần gì. Tiêu chuẩn nguyên liệu ra sao. Sản lượng bao nhiêu. Thời điểm nào cần hàng. Từ đó, HTX tổ chức nông dân sản xuất theo quy trình thống nhất.

Liên kết phải đủ dài để người trồng có cơ sở đầu tư. DN cũng có thể dự báo nguồn cung. Đây là cách chuyển từ “có vùng trồng” sang “có nguồn cung công nghiệp”. Mã số vùng trồng, hồ sơ sản xuất và truy xuất nguồn gốc cũng cần được xem là công cụ quản trị. Dữ liệu phải giúp DN biết vùng nào đang sản xuất, sản lượng dự kiến bao nhiêu, chất lượng ra sao và khi nào thu hoạch.

Quan trọng hơn, chế biến sâu phải được tính ngay từ khi xây dựng vùng nguyên liệu. Sản phẩm và thị trường cần được xác định trước. Từ đó mới thiết kế vùng trồng, tiêu chuẩn sản xuất và công nghệ phù hợp.

Thực tế như ở mảng dược liệu cho thấy rõ khoảng trống này. PGs.Ts. Đỗ Thị Hà, Phó Viện trưởng Viện Dược liệu, cho biết Việt Nam có hơn 5.000 loài thực vật có giá trị làm thuốc. Nguồn tài nguyên phong phú nhưng phần lớn vẫn được khai thác dưới dạng nguyên liệu thô. Chế biến sâu còn hạn chế. Giá trị dược liệu vì thế chưa chuyển hóa thành năng lực công nghiệp và lợi thế cạnh tranh.

Theo bà Hà, muốn thay đổi phải nhìn toàn bộ chuỗi. Từ vùng trồng đạt GACP-WHO, sơ chế, chế biến sâu đạt GMP đến nghiên cứu, phát triển sản phẩm và XK. Các khâu phải liên kết chặt chẽ. Khoa học - công nghệ phải xuyên suốt.

Cần gắn vùng nguyên liệu với nhu cầu thị trường, tăng liên kết doanh nghiệp - HTX - nông dân, quản trị bằng dữ liệu và đẩy mạnh chế biến sâu.

Đây cũng là bài học với nhiều nông sản. Không thể xây dựng công nghiệp chế biến mạnh trên một nền nguyên liệu được tổ chức yếu. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh thời gian tới cần chuyển từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Đồng thời, phải tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, có thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và khả năng tham gia trực tiếp vào hệ thống phân phối quốc tế.

Với bài toán nguyên liệu, cần thiết kế lại cả chuỗi. Nhà nước lo hạ tầng, dữ liệu, kiểm nghiệm, tín dụng, logistics và tiêu chuẩn. DN dẫn dắt thị trường, đầu tư chế biến và xây dựng vùng nguyên liệu. HTX tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và kết nối nông dân. Tất cả phải bắt đầu từ nhu cầu thị trường, rồi mới tổ chức sản xuất. Đây là cách thay tư duy “có gì bán nấy”.

Gần 42,6 tỷ USD xuất khẩu trong 7 tháng là kết quả đáng ghi nhận. Nhưng tăng XK chưa đủ nếu nguồn nguyên liệu vẫn chông chênh, chi phí cao và nhập khẩu đầu vào tăng.

Việt Nam không thiếu nguyên liệu, nhưng điểm nghẽn nằm ở cách tổ chức nguồn cung. Các bên trong chuỗi cần làm chủ vùng nguyên liệu, kéo dài liên kết, quản trị bằng dữ liệu và kiểm soát chi phí. Đồng thời, DN phải đẩy mạnh chế biến sâu để nguyên liệu Việt đi xa hơn và giữ lại nhiều hơn giá trị trong nước.

Thế Vinh

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ