Nợ xấu phình to sau nửa năm, ngân hàng đối mặt 'hóa đơn' dự phòng ngày càng lớn

Số liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính quý 2/2026 của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy tổng nợ xấu, gồm nợ nhóm 3 đến nhóm 5, đã lên tới 312.108,5 tỷ đồng vào cuối tháng 6, tăng 17,5% so với cuối năm 2025.
Đáng chú ý, tốc độ tăng của nợ xấu cao hơn đáng kể mức tăng 10,4% của dư nợ cho vay khách hàng trong cùng kỳ. Điều này cho thấy chất lượng tín dụng đang chịu áp lực khi quy mô các khoản vay tiếp tục mở rộng nhưng nợ quá hạn lại tăng nhanh hơn.
NỢ XẤU NGÂN HÀNG TIẾP TỤC PHÌNH TO
Trong số 27 ngân hàng niêm yết, có tới 23 đơn vị ghi nhận nợ xấu tăng trong 6 tháng đầu năm. Diễn biến này xuất hiện trong bối cảnh tín dụng tiếp tục được đẩy mạnh để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, trong khi nhiều doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với chi phí tài chính cao, thị trường bất động sản phục hồi chưa đồng đều và dòng tiền chưa thực sự cải thiện.
Khi các khoản vay bước sang giai đoạn bộc lộ rõ hơn chất lượng tài sản, áp lực phân loại nợ và trích lập dự phòng cũng bắt đầu tăng lên.
Xét về quy mô tuyệt đối, Sacombank đang đứng đầu với gần 48.000 tỷ đồng nợ xấu, tăng khoảng 19% so với cuối năm 2025. BIDV đứng ngay sau với hơn 45.700 tỷ đồng, tăng 31%; VPBank có hơn 38.000 tỷ đồng, tăng 21%; còn VietinBank ghi nhận hơn 25.000 tỷ đồng, tăng 14%.

Như vậy, áp lực nợ xấu về giá trị tuyệt đối vẫn tập trung khá lớn tại những ngân hàng có quy mô tín dụng lớn. Tuy nhiên, nếu xét về tốc độ tăng, nhiều ngân hàng quy mô vừa và nhỏ lại đang chứng kiến diễn biến đáng chú ý hơn.
ABBank là nhà băng có nợ xấu tăng mạnh nhất, tới 62% chỉ sau 6 tháng. TPBank đứng tiếp theo với mức tăng 59%, HDBank tăng 38%, BIDV tăng 31%, PGBank tăng 30% và MB tăng 27%.
Ở chiều ngược lại, chỉ một số ít ngân hàng ghi nhận quy mô nợ xấu giảm trong 6 tháng đầu năm, bao gồm VietBank giảm 27%, Nam A Bank giảm 24% và Saigonbank giảm nhẹ 1%.
Không chỉ tăng về giá trị tuyệt đối, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của nhóm ngân hàng niêm yết cũng nhích lên đáng kể.
Tính chung 27 ngân hàng niêm yết, tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1,85% cuối năm 2025 lên 2,01% vào cuối tháng 6/2026, tương ứng tăng 0,16 điểm phần trăm. Tuy nhiên, bức tranh giữa các nhà băng có sự phân hóa rất rõ.
Vietcombank tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về chất lượng tài sản khi tỷ lệ nợ xấu chỉ ở mức 0,61%, tăng nhẹ từ 0,58% cuối năm trước. Đây cũng là ngân hàng duy nhất trong nhóm khảo sát duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 1%.

ACB đứng thứ hai với tỷ lệ nợ xấu 1,03%, tăng 0,06 điểm phần trăm so với mức 0,97% cuối năm 2025. Techcombank đứng thứ ba với 1,08%, chỉ tăng 0,01 điểm phần trăm. Đây cũng là hai ngân hàng tư nhân có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất trong nhóm khảo sát.
Bac A Bank đứng thứ tư với tỷ lệ 1,13%, giảm nhẹ từ 1,15% cuối năm trước. VietinBank đứng thứ năm với 1,2%, tăng 0,1 điểm phần trăm. ABBank cũng có tỷ lệ 1,2%, song mức tăng đáng chú ý hơn khi tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng này đã tăng từ 0,85% lên 1,2% chỉ sau 6 tháng.
Tiếp theo là VietABank với tỷ lệ 1,22%, giảm từ 1,31%; MB ở mức 1,45%, tăng từ 1,29%. Nam A Bank ghi nhận tỷ lệ 1,47%, giảm mạnh từ 2,16% cuối năm 2025. KienlongBank khép lại Top 10 với 1,83%, giảm nhẹ so với mức 1,86% cuối năm trước.
Như vậy, trong nhóm 10 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất, có 4 nhà băng cải thiện chất lượng tài sản gồm Bac A Bank, VietABank, Nam A Bank và KienLongbank. Ở chiều ngược lại, Vietcombank, ACB, Techcombank, VietinBank, ABBank và MB đều ghi nhận tỷ lệ nợ xấu tăng.
Ở phía cuối bảng, Sacombank, NCB, OCB, BVBank là những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao hơn mặt bằng chung.
BỘ ĐỆM DỰ PHÒNG NGÀY CÀNG MỎNG ĐI
Điều khiến diễn biến nợ xấu trở nên đáng chú ý hơn là tỷ lệ bao phủ nợ xấu đang giảm. Theo SSI Research, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngành đã giảm xuống khoảng 83% trong quý 2/2026, từ 86% trong quý 1 và 95% cùng kỳ năm 2025.
Nói cách khác, trong khi quy mô nợ xấu tiếp tục tăng, lượng dự phòng được sử dụng để bao phủ các khoản nợ này lại không tăng tương ứng. Đây là yếu tố có thể khiến chi phí dự phòng trở thành biến số lớn đối với lợi nhuận ngân hàng trong nửa cuối năm.

Nguồn: VDSC
Nhóm phân tích Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng áp lực trích lập dự phòng sẽ gia tăng trong những tháng cuối năm và có thể trở thành rủi ro lớn nhất đối với tăng trưởng lợi nhuận ngành ngân hàng, đặc biệt tại những nhà băng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu dưới 60%.
Theo VDSC, có ba biến số cần được theo dõi sát trong các quý tới. Thứ nhất là tốc độ hình thành nợ nhóm 2 có chững lại hay không khi mặt bằng lãi suất được kỳ vọng tạo đỉnh. Thứ hai là khả năng duy trì nguồn thu hồi nợ ngoại bảng trong bối cảnh thanh khoản trên thị trường bất động sản chưa thực sự thuận lợi. Thứ ba là tốc độ củng cố bộ đệm dự phòng tại những nhà băng có lượng nợ xấu hình thành ròng lớn.
Điểm đáng chú ý là nợ xấu tăng lên trong khi hoạt động tín dụng vẫn đang là động lực chính của ngành ngân hàng.
SSI Research cho rằng kết quả kinh doanh nửa đầu năm vẫn tích cực hơn kỳ vọng nhờ tăng trưởng tín dụng khả quan, NIM phục hồi và nguồn thu phí cải thiện. Sau giai đoạn đa dạng hóa danh mục trong quý 1, nhiều ngân hàng đã quay trở lại các lĩnh vực cho vay cốt lõi trong quý 2.
Những ngân hàng còn nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng như MB, VPBank, HDBank, Techcombank, TPBank và VIB đẩy mạnh cho vay chủ đầu tư bất động sản, thương mại, bán buôn - bán lẻ và dịch vụ tài chính. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và ACB tập trung nhiều hơn vào khách hàng doanh nghiệp lớn và hộ kinh doanh.
Tuy nhiên, tín dụng mua nhà lại có dấu hiệu chững lại trên diện rộng. Ngay cả những ngân hàng còn nhiều hạn mức tín dụng như VPBank, HDBank và Techcombank cũng không ghi nhận mức tăng đáng kể ở phân khúc này.
Theo SSI, nguyên nhân chủ yếu đến từ mặt bằng lãi suất vay mua nhà hiện phổ biến ở mức 12-14%/năm, trong khi nguồn cung nhà ở giá thấp vẫn hạn chế.
Đây cũng là một trong những yếu tố khiến chất lượng tín dụng cần được theo dõi chặt chẽ hơn. Khi chi phí vay tăng, khả năng trả nợ của nhóm khách hàng sử dụng đòn bẩy cao có thể chịu thêm sức ép, đặc biệt nếu thu nhập hoặc dòng tiền không tăng tương ứng.

Nguồn: VDSC
SSI Research đánh giá tỷ lệ nợ xấu toàn ngành đã lên mức cao nhất trong một quý 2 kể từ năm 2020. Xu hướng suy giảm chất lượng tài sản cũng đang lan rộng hơn, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục đi xuống.
Bên cạnh đó, khả năng phục hồi của NIM trong nửa cuối năm vẫn là một dấu hỏi khi chi phí vốn có xu hướng tăng. Nhu cầu vốn trung và dài hạn cũng được dự báo duy trì ở mức cao khi các dự án hạ tầng trọng điểm bước vào giai đoạn triển khai tiếp theo, trong khi khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn tương đối lớn.
Dù vậy, SSI vẫn kỳ vọng lợi nhuận toàn ngành sẽ tiếp tục tăng trưởng trong nửa cuối năm nhờ tín dụng duy trì tích cực. Nhưng bức tranh lợi nhuận được dự báo sẽ phân hóa mạnh hơn, phụ thuộc vào ba yếu tố chính là sức mạnh nguồn vốn, chất lượng tài sản và khả năng trích lập dự phòng của từng ngân hàng.
Cùng quan điểm thận trọng, Chứng khoán Shinhan (SSV) dự báo tỷ lệ nợ xấu toàn ngành có thể duy trì quanh mức 1,8% vào cuối năm 2026.
Nếu kịch bản này xảy ra, nửa cuối năm sẽ là giai đoạn thử thách rõ nét hơn đối với năng lực quản trị rủi ro của từng nhà băng. Những ngân hàng sở hữu bộ đệm dự phòng dày, kiểm soát tốt chất lượng tín dụng và có khả năng thu hồi nợ hiệu quả sẽ có nhiều dư địa bảo vệ lợi nhuận.
Ngược lại, với những ngân hàng để nợ xấu tiếp tục phình to nhưng không kịp củng cố dự phòng, phần lợi nhuận tạo ra từ tăng trưởng tín dụng có thể bị bào mòn đáng kể bởi chi phí xử lý rủi ro.
Minh Vân
5 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
8 ngày trước
8 ngày trước
8 ngày trước
8 ngày trước
8 ngày trước
9 ngày trước
1 giờ trước
13 phút trước
42 phút trước
1 giờ trước