Những nội dung cơ bản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Đại lễ Phật đản năm 2026 chính cử hành tại Tổ đình Từ Đàm (Thành phố Huế).
Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho biết, qua hơn 8 năm thi hành, Luật Tôn giáo, tín ngưỡng năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Tuy nhiên, trước yêu cầu cấp bách của việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước, cải cách mạnh mẽ thủ tục, phương thức điều hành hành chính, đồng thời, đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý nhà nước, Luật Tôn giáo, tín ngưỡng năm 2016 đã phát sinh một số hạn chế, khó khăn. Cụ thể là:
Thứ nhất, Luật Tôn giáo, tín ngưỡng năm 2016 chưa có quy định về nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng không chỉ là vấn đề mới mà còn là thực tế tất yếu trong kỷ nguyên số, đặt ra yêu cầu cần thiết phải quy định pháp lý đầy đủ, toàn diện về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, quy định cụ thể quyền, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông trong việc ngăn chặn các nội dung vi phạm về tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ hai, để vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, trong bối cảnh chưa sửa đổi được Luật năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.
Theo đó, Nghị định số 124/2025/NĐ-CP sẽ hết hiệu lực kể từ ngày 1/3/2027. Bên cạnh đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được thành lập trên cơ sở Ủy ban Dân tộc tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo từ Bộ Nội vụ.
Do vậy, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cần được sửa đổi, bổ sung để thực hiện phân quyền, phân cấp phù hợp, tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và hoàn thiện các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới.
Thứ ba, thực tiễn công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo thời gian qua gặp những khó khăn, vướng mắc do một số vấn đề chưa có quy định của pháp luật điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa rõ ràng, một số hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chưa có biện pháp quản lý.
Cụ thể như: (i) nhiều địa điểm, cơ sở của cá nhân hoặc do doanh nghiệp đầu tư xây dựng có tổ chức hoạt động tín ngưỡng và người thực hiện các hoạt động này đã thực hiện việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) về quản lý nhà nước đối với sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài trong các khu đô thị, công nghiệp, khu kinh tế,... (iii) về đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc để tạo thuận lợi cho tất cả các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; … cần thiết phải bổ sung biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ tư, yêu cầu về cải cách hành chính, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính là cần thiết.
Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Luật năm 2016 hướng tới 3 mục tiêu dưới đây.
Trước hết, khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 trong thời gian qua, đồng thời kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;
Cùng với đó, hoàn thiện các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bị tác động bởi chủ trương sắp xếp, tổ chức bộ máy, bảo đảm hệ thống các cơ quan, người có thẩm quyền hoạt động liên tục, thông suốt, không bị gián đoạn;
Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Góp phần tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm phù hợp với chủ trương tổ chức bộ máy quản lý nhà nước thời gian qua và trong giai đoạn sắp tới.
Những nội dung cơ bản
Được thông qua tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI vào ngày 23/4/2026, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (sau đây gọi tắt là Luật) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027 thay thế Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 84/2025/QH15. Luật gồm 9 chương, 61 điều.
Về phạm vi điều chỉnh, Luật quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Đối tượng áp dụng là cơ quan; tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đề cập tới quyền và nghĩa vụ cơ bản của cá nhân, tổ chức thuộc phạm vi đối tượng áp dụng.
Trước hết, về quyền của cá nhân, Điều 9 của Luật quy định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo; người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo phải trên cơ sở tự nguyện và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện ma túy có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.
Đối với người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, theo quy định tại Điều 10 của Luật: Được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; được sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; được sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; được mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; được vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo; được mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của cá nhân; chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam.
Về quyền của tổ chức, Điều 11 của Luật quy định: Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và văn bản có nội dung tương tự (gọi chung là hiến chương) của tổ chức tôn giáo; được tổ chức sinh hoạt tôn giáo; được xuất bản kinh sách, xuất bản phẩm khác về tôn giáo; được sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo; được cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở tôn giáo; được nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tự nguyện tặng cho; được thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đối với tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, theo quy định tại Điều 12 của Luật: Được tổ chức các cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý; được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc; được sửa chữa, cải tạo trụ sở; được hoạt động từ thiện, nhân đạo; được tổ chức đại hội thông qua hiến chương.
Đối với cộng đồng dân cư: Có cơ sở tín ngưỡng là tài sản thuộc sở hữu chung để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng dân cư; được bầu, cử người đại diện hoặc thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng; quy định về thời hạn nhiệm kỳ, trách nhiệm, quyền hạn của người đại diện, thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng (Điều 14); được thực hiện các hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng và ngoài cơ sở tín ngưỡng (Điều 15); được tổ chức lễ hội tín ngưỡng (Điều 16, 17); quản lý, sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng (Điều 18); tổ chức quyên góp, nhận tặng cho của tổ chức, cá nhân hoặc các nguồn khác theo quy định của pháp luật để tạo lập tài sản thuộc cơ sở tín ngưỡng phục vụ hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng (Điều 52).
Về nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư, Điều 13 của Luật quy định: Tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ quy định tại Điều 3 của Luật về nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đúng quy định của pháp luật.
NGÂN ANH
3 giờ trước
17 phút trước
2 giờ trước
15 phút trước
26 phút trước
27 phút trước
42 phút trước
45 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước