🔍
Chuyên mục: Thời sự

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị: Tiền đề quan trọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới

3 giờ trước
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc khơi dậy và phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam được xác định là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược. Ngày 7/1/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, qua đó khẳng định rõ vai trò nền tảng của văn hóa, coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, là tiền đề để đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đối với vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nghị quyết không chỉ là định hướng lâu dài, mà còn là kim chỉ nam để văn hóa thực sự đi vào đời sống, bồi đắp thế trận lòng dân từ cơ sở.

Khối quân nhạc dẫn đầu các khối diễu binh của Quân đội Nhân dân luyện tập cho Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (A80) tại Trung tâm Huấn luyện quốc gia Miếu Môn, tháng 8/2025. Ảnh: Cẩm Linh

“Văn hóa còn thì dân tộc còn”

Kế thừa sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa đối với vận mệnh dân tộc, Nghị quyết số 80-NQ/TW tiếp tục khẳng định một chân lý có giá trị bền vững: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”, “văn hóa soi đường quốc dân đi”. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, nếu văn hóa không được gìn giữ, bồi đắp và phát triển đúng hướng thì sự mai một về giá trị, sự lệch chuẩn về lối sống và sự phai nhạt bản sắc sẽ trực tiếp làm suy yếu nền tảng tinh thần của xã hội. Chính vì vậy, việc Nghị quyết số 80-NQ/TW ra đời không chỉ là nhiệm vụ phát triển, mà còn là yêu cầu mang tính sống còn đối với sự trường tồn của dân tộc.

Trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, việc khơi dậy và phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam được xác định là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đối với vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi chỉ khi văn hóa thực sự đi vào đời sống cộng đồng thì niềm tin, sự gắn kết xã hội và thế trận lòng dân mới được củng cố vững chắc từ cơ sở.

Thực tế cho thấy, nơi nào môi trường văn hóa cơ sở được xây dựng lành mạnh, các giá trị truyền thống được tôn trọng và phát huy, nơi đó cộng đồng gắn kết, kỷ cương xã hội được giữ vững, các yếu tố phức tạp khó có thể xâm nhập. Ngược lại, nếu đời sống văn hóa nghèo nàn, thiết chế văn hóa hoạt động hình thức, thanh thiếu niên thiếu điểm tựa tinh thần, thì nguy cơ nảy sinh tệ nạn xã hội, lệch chuẩn giá trị là điều khó tránh khỏi. Bởi vậy, thu hẹp chênh lệch trong tiếp cận và thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, nhất là vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, không chỉ là yêu cầu phát triển văn hóa, mà còn là nhiệm vụ trực tiếp góp phần củng cố sức mạnh mềm quốc gia ngay từ cơ sở.

Nền tảng vững chắc để phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện bước đổi mới quan trọng về tư duy chỉ đạo và điều hành trong phát triển văn hóa. Lần đầu tiên, văn hóa được xác định không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là “hệ điều tiết” cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Cách tiếp cận này cho thấy văn hóa không đứng ngoài quá trình phát triển, mà trực tiếp tham gia điều chỉnh, dẫn dắt và bảo đảm tính hài hòa, bền vững của tăng trưởng trong bối cảnh toàn cầu hóa và kỷ nguyên số.

Một điểm mới nổi bật khác là việc Nghị quyết số 80-NQ/TW đặc biệt coi trọng hoàn thiện thể chế để tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hóa. Theo đó, tập trung xây dựng và hoàn thiện các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hóa theo hướng kiến tạo phát triển; đồng thời xây dựng và tổ chức thực hiện Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ chỉ số thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế theo chuẩn mực quốc tế. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý, hoạch định chính sách và đánh giá thực chất vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước.

Nghị quyết số 80-NQ/TW là tiền đề để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số. Ảnh: Bùi Cường

Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng đề ra các chỉ tiêu định lượng cụ thể, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong đầu tư cho văn hóa, như bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước hằng năm cho văn hóa; phấn đấu để công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045; hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam vào top 3 của khu vực ASEAN và top 30 thế giới về Chỉ số sức mạnh mềm quốc gia.

Cùng với đó, Nghị quyết yêu cầu đổi mới quản trị văn hóa theo hướng hiện đại, minh bạch, sáng tạo; chuyển từ quản lý sang quản trị, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực văn hóa. Việc thống nhất chọn ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam” cũng thể hiện tầm nhìn dài hạn, nhằm nâng cao mức độ thụ hưởng văn hóa của nhân dân, động viên sáng tạo và xây dựng xã hội nhân văn, bền vững.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh vai trò của khoa học và công nghệ như một xung lực quan trọng tạo đột phá cho văn hóa. Nhiệm vụ đặt ra là đẩy nhanh tiến trình số hóa di sản văn hóa, phấn đấu hoàn thành việc số hóa toàn bộ các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia vào năm 2026, đồng thời xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia thống nhất, làm nền tảng cho quản trị, bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa trong bối cảnh mới.

Nhìn từ các khu vực biên giới, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số có thể thấy rằng, việc phát triển công nghiệp văn hóa gắn với chuyển đổi số không chỉ là định hướng dài hạn, mà còn là giải pháp thực tiễn nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa bản địa, tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. Việc số hóa di sản, tri thức dân gian, lễ hội truyền thống và nghề thủ công không chỉ góp phần bảo tồn các giá trị đang đứng trước nguy cơ mai một, mà còn tạo điều kiện hình thành các sản phẩm văn hóa, du lịch, giáo dục phù hợp với điều kiện vùng sâu, vùng xa. Khi các thiết chế văn hóa số như bảo tàng mở, thư viện số, không gian trình diễn lưu động được triển khai linh hoạt tại cơ sở, người dân vùng biên không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn trở thành chủ thể tham gia sáng tạo, quảng bá và lan tỏa giá trị văn hóa của cộng đồng mình. Qua đó, văn hóa vùng biên được kết nối chặt chẽ với không gian phát triển chung của đất nước, góp phần thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa, củng cố thế trận lòng dân và tăng cường sức mạnh mềm quốc gia ngay từ tuyến đầu Tổ quốc.

Cẩm Linh

TIN LIÊN QUAN




































Home Icon VỀ TRANG CHỦ