🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Năng lực văn hóa dân tộc - phần chìm của sức mạnh phát triển

7 giờ trước
Khi bàn về sức mạnh của một quốc gia, người ta thường nhìn vào những gì hiện lên trên bề mặt: tăng trưởng kinh tế, hạ tầng hiện đại, thể chế pháp luật, năng lực quản trị hay vị thế quốc tế. Đó là những yếu tố quan trọng nhưng điều quyết định độ bền, độ sâu và hướng đi của một dân tộc nhiều khi nằm ở văn hóa.

Trong khoa học xã hội, có một ẩn dụ khá quen thuộc: Năng lực giống như một tảng băng trôi. Phần dễ thấy là những gì biểu lộ ra bên ngoài; phần chìm sâu hơn mới là thứ chi phối mạnh hơn. Một số nghiên cứu kinh điển về năng lực cá nhân từng gợi ý rằng thành tích bền vững không chỉ do kiến thức và kỹ năng, mà còn do động cơ, hệ giá trị, niềm tin và những đặc điểm nằm sâu bên trong. Từ góc nhìn nhân học, văn hóa cũng thường được hình dung theo logic ấy: cái nhìn thấy được là phong tục, nghi lễ, ngôn ngữ, lối sống; còn cái quyết định hơn là chuẩn mực, quan niệm sống, cách tư duy và cách con người ứng xử với nhau.

Vận dụng vào bình diện quốc gia, có thể nói năng lực văn hóa dân tộc chính là phần chiều sâu của sức mạnh phát triển. Nói cách khác, thể chế và tăng trưởng là phần dễ thấy của phát triển; còn văn hóa mới là lớp nền âm thầm quyết định hướng đi và sức bền của một dân tộc.

Liên hoan nghệ thuật múa rồng Hà Nội tại phố đi bộ Hồ Gươm

Nhìn từ tinh thần ấy, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam không chỉ là việc của riêng ngành văn hóa. Điều cốt lõi mà nghị quyết đặt ra là một nhận thức căn bản: văn hóa không phải phần phụ họa của phát triển, càng không chỉ là lễ hội, biểu diễn hay bảo tồn di sản, hay những công trình văn hóa to lớn mà là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và động lực phát triển của dân tộc. Quan điểm ấy tiếp tục được nhấn mạnh tại Hội nghị toàn quốc ngày 25/2/2026 khi Trung ương quán triệt triển khai Nghị quyết 79 và Nghị quyết 80.

Cũng cần hiểu năng lực văn hóa không chỉ nằm ở những giá trị vô hình. Những công trình kiến trúc, bộ phim hay, tác phẩm nghệ thuật, di tích lịch sử, bảo tàng, thư viện, không gian sáng tạo hay cách một quốc gia gìn giữ và tôn vinh các kỳ quan thiên nhiên đều là biểu hiện cụ thể của sức mạnh văn hóa dân tộc. Nhưng đó mới là phần dễ nhìn thấy. Điều có ý nghĩa quyết định hơn vẫn là chiều sâu bên trong: hệ giá trị, năng lực sáng tạo, trình độ thẩm mỹ, ý thức bảo tồn, thái độ đối với tri thức và tinh thần kỷ luật xã hội.

Một dân tộc mạnh về văn hóa không chỉ vì sở hữu nhiều di sản, mà vì có khả năng không ngừng tạo ra giá trị mới, gìn giữ giá trị cũ và truyền được những giá trị ấy cho các thế hệ sau. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “Văn hóa là đổi mới, đổi mới là văn hóa”.

Chính ở đây, văn hóa cho thấy vai trò nền tảng của nó đối với thể chế. Thể chế hiện đại là rất cần thiết, nhưng thể chế không vận hành trong khoảng không. Nó vận hành thông qua con người, qua thói quen ứng xử, qua mức độ tôn trọng pháp luật và qua niềm tin xã hội. Vì thế, có những nơi tiếp nhận được mô hình thể chế khá hiện đại nhưng kết quả phát triển vẫn rất khác nhau.

Nhiều quốc gia từng chịu ảnh hưởng sâu của hệ thống cai trị Anh như Ấn Độ hay Pakistan đều tiếp nhận không ít yếu tố của pháp luật, hành chính và mô hình nghị viện kiểu Anh. Nhưng quỹ đạo phát triển của họ khác xa Canada hay Australia. Không thể giải thích đầy đủ sự khác biệt ấy chỉ bằng văn bản pháp luật hay sơ đồ tổ chức bộ máy. Cần nhìn sâu hơn vào văn hóa chính trị, văn hóa pháp quyền, mức độ tin cậy xã hội, tinh thần công dân và cách ứng xử với lợi ích công.

Nói ngắn gọn, cùng một thiết kế thể chế nhưng đặt vào những nền văn hóa khác nhau thì hiệu quả thực thi có thể khác rất xa. Ở nơi đề cao trách nhiệm cá nhân, tôn trọng chuẩn mực, coi trọng năng lực thực và giữ chữ tín trong đời sống công, thể chế có điều kiện vận hành tốt hơn. Ngược lại, nếu xã hội vẫn phổ biến tâm lý tùy tiện, nể nang, chuộng quan hệ hơn nguyên tắc, thích “linh hoạt” với quy tắc chung, thì thể chế hiện đại cũng dễ bị bào mòn trong thực thi.

Vì vậy, trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, nói đến phát triển văn hóa không thể chỉ dừng ở bảo tồn di sản hay mở rộng công nghiệp văn hóa. Quan trọng hơn là nâng cấp nền tảng giá trị của xã hội: tôn trọng sự thật, đề cao trách nhiệm, trọng thực chất hơn hình thức, trọng năng lực hơn quan hệ, biết xấu hổ trước cái sai, biết tự trọng trong hành vi và biết đặt lợi ích chung lên trên sự tiện lợi ích kỷ. Đó mới là yếu tố tạo nên sức bền của dân tộc.

Một quốc gia có thể đi nhanh nhờ vốn và công nghệ. Nhưng muốn đi xa và đi vững, quốc gia ấy phải có một nền văn hóa đủ mạnh để nâng đỡ thể chế, sửa thói quen cũ và tạo ra năng lực tự điều chỉnh từ bên trong. Muốn dân tộc vươn mình, phải chăm từ gốc. Và gốc của sức mạnh ấy, trước hết, là văn hóa.

TS. Hoàng Ngọc Vinh

TIN LIÊN QUAN


Sức mạnh mềm
Báo Đà Nẵng 1 ngày trước

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ