🔍
Chuyên mục: Thời sự

Nghị quyết 80-NQ/TW: Đưa văn hóa trở thành động lực, mục tiêu phát triển quốc gia

3 giờ trước
Theo PGS. TS Phạm Ngọc Trung - Nguyên Trưởng khoa Văn hóa và phát triển – Học viện Báo chí và tuyên truyền, Nghị quyết 80-NQ/TW đã nhìn nhận văn hóa trên quan điểm khoa học và mang tính chiến lược, xác định văn hóa không chỉ đi sau để phục vụ kinh tế mà vừa là động lực, vừa là mục tiêu phát triển quốc gia.

Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam coi phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam, PGS. TS Phạm Ngọc Trung - Nguyên Trưởng khoa Văn hóa và phát triển – Học viện Báo chí và tuyên truyền nhận định văn hóa vừa có giá trị tinh thần, vừa có giá trị vật chất, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc gìn giữ nền tảng xã hội và duy trì sự phát triển đúng trật tự, đúng truyền thống của dân tộc và phù hợp với pháp luật.

Liên hoan nghệ thuật múa rồng Hà Nội tại phố đi bộ Hồ Gươm

PV: Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị được xem là bước chuyển quan trọng khi đặt văn hóa vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Ông đánh giá đâu là điểm đột phá lớn nhất của Nghị quyết?

PGS. TS Phạm Ngọc Trung: Từ khi ra đời đến nay, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết trên các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa có rất nhiều nghị quyết qua các thời kỳ. Mỗi nghị quyết đều có vị trí, vai trò và ý nghĩa lịch sử riêng. Tuy nhiên, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa là một nghị quyết tương đối đặc biệt so với các nghị quyết trước đây. Nghị quyết này đã nhìn nhận văn hóa trên quan điểm khoa học và mang tính chiến lược, xác định văn hóa không chỉ đi sau để phục vụ kinh tế mà vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển.

Hiện nay, quan điểm của Đảng về văn hóa ngày càng được nâng cao và hoàn thiện, các vấn đề được nhận thức và giải quyết sâu rộng hơn. Văn hóa tiếp tục được khẳng định là động lực, là mục tiêu của phát triển đất nước. Đồng thời, Tổng Bí thư Tô Lâm và Đảng ta còn nhấn mạnh vị trí đặc biệt của văn hóa: không chỉ là động lực mà còn là yếu tố điều tiết sự vận hành, biến đổi và phát triển của xã hội, của tổ chức, của gia đình và của mỗi con người.

Điều đó cho thấy văn hóa được nhìn nhận sâu sắc và đúng đắn hơn về chức năng, nhiệm vụ cũng như lịch sử hình thành và phát triển. Trong mỗi quốc gia, mỗi gia đình hay mỗi cá nhân, nếu có nền tảng văn hóa vững vàng thì mọi suy nghĩ, hành động đều có cơ sở khoa học, pháp lý và nhân văn. Những hoạt động đó sẽ phù hợp với pháp luật, với phong tục tập quán và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Từ đó, xã hội phát triển bền vững, tội phạm giảm bớt, xã hội trở nên thanh bình, ổn định, mọi người chung sống hòa bình và được phát huy năng lực, trình độ trong học tập, lao động sản xuất, chiến đấu và xây dựng đất nước.

Lễ hội Áo dài Du lịch Hà Nội

PV: Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển văn hóa ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội. Theo ông, cần những điều kiện gì để quan điểm này thực sự đi vào đời sống?

PGS. TS Phạm Ngọc Trung: Vào thời kỳ trước hay ở những giai đoạn phát triển sau này của đất nước, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Cách đây 70–80 năm, Người đã nhìn nhận văn hóa là yếu tố đặc biệt, có vai trò soi đường, nghĩa là đi trước các hoạt động khác, để dưới ánh sáng của văn hóa, con người nhận thức được đâu là đúng, đâu là sai, đâu là điều cần ủng hộ, cần làm theo, đâu là điều cần đấu tranh, loại bỏ. Khi có trình độ văn hóa cao, con người có thể phân biệt tiến bộ với lạc hậu, tích cực với tiêu cực, từ đó ủng hộ cái đúng và đấu tranh chống lại những điều không tốt.

Trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, Đảng nhấn mạnh văn hóa đồng hành cùng các lĩnh vực khác, đặc biệt là kinh tế, chính trị và xã hội. Trước đây vài chục năm, có thời kỳ nhiều người cho rằng văn hóa chỉ là yếu tố phụ trợ, đi sau để phục vụ kinh tế; kinh tế mới là động lực làm ra của cải vật chất, còn văn hóa chỉ thuộc lĩnh vực tinh thần như giải trí. Quan niệm đó tuy ghi nhận vai trò tinh thần của văn hóa nhưng chưa đầy đủ.

Hiện nay, văn hóa không chỉ thuộc lĩnh vực tinh thần. Khi văn hóa thấm sâu vào đời sống quần chúng, phục vụ con người và giúp con người hiểu rõ bản chất văn hóa, mục đích cuộc sống, những giá trị tinh thần ấy được chuyển hóa thành vật chất. Văn hóa tạo ra việc làm, hoạt động kinh tế, mang lại lợi ích cho đất nước, đồng thời góp phần gìn giữ truyền thống dân tộc, xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới.

Vì vậy, văn hóa vừa có giá trị tinh thần, vừa có giá trị vật chất, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc gìn giữ nền tảng xã hội và duy trì sự phát triển đúng trật tự, đúng truyền thống của dân tộc và phù hợp với pháp luật. Từ đó hình thành một xã hội văn minh, tiến bộ, lành mạnh và thống nhất.

PV: Theo ông, đâu là rào cản hoặc thách thức khiến các chủ trương phát triển văn hóa đôi khi chưa đi vào thực chất?

PGS. TS Phạm Ngọc Trung: Trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa, đặc biệt giai đoạn gần đây, vẫn tồn tại những khó khăn, rào cản nhất định. Thứ nhất, nhận thức về văn hóa trong nhân dân chưa đồng đều. Có người nhận thức sâu sắc, toàn diện, thấy được các mối quan hệ và sức mạnh của văn hóa; nhưng cũng có người chỉ nhìn văn hóa như loại hình nghệ thuật để thưởng thức, giải trí. Cách nhìn đó mới phản ánh một khía cạnh hẹp của văn hóa, chưa thấy hết vai trò và chiều sâu phát triển của văn hóa nói chung.

Thứ hai, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa và thời đại công nghệ số, xuất hiện nhiều trào lưu, tư tưởng và hoạt động văn hóa đa chiều từ các quốc gia khác nhau. Khi du nhập vào Việt Nam, nếu bản lĩnh chưa vững vàng, nhất là ở một bộ phận giới trẻ, có thể dẫn đến sự nhầm lẫn giữa văn hóa và phản văn hóa; giữa giá trị đích thực và những biểu hiện lệch chuẩn, gây tác động tiêu cực.

Những sự kiện văn hóa – nghệ thuật, nếu được tổ chức theo mô hình chuyên nghiệp

Thứ ba, thông qua mạng xã hội, nhiều xu hướng về lối sống, cách ăn mặc, giao tiếp, ứng xử trong gia đình và ngoài xã hội lan truyền nhanh chóng. Không ít nội dung chưa phù hợp với chuẩn mực văn hóa Việt Nam nhưng lại được phổ biến rộng rãi, dễ khiến một số bạn trẻ ngộ nhận đó là mới mẻ, tiến bộ, văn minh, trong khi thực chất có thể là những điều không còn phù hợp, thậm chí đã bị loại bỏ ở nơi khác.

Những yếu tố trên có thể trở thành rào cản, tạo ra những “hạt sạn” trong quá trình phát triển văn hóa. Vì vậy, cần kịp thời nhận diện và có giải pháp khắc phục, để quá trình vận hành, biến đổi và phát triển văn hóa của đất nước diễn ra toàn diện, hài hòa, thống nhất. Có như vậy mới xây dựng được môi trường, không gian văn hóa lành mạnh, ổn định, tạo điều kiện cho người dân sinh sống, lao động, học tập và cống hiến.

PV: Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra nhiều chỉ tiêu để phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030, trong đó có mục tiêu thúc đẩy công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP và nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế, PGS. TS Phạm Ngọc Trung đánh giá như thế nào về chỉ tiêu này?

PGS. TS Phạm Ngọc Trung: Tôi cho rằng đây là một chỉ tiêu khá cao, nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được. Trong 4 năm tới, đến năm 2030, nếu công nghiệp văn hóa của nước ta phát triển trên nhiều lĩnh vực, được sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng, sự hỗ trợ của Nhà nước, Quốc hội và toàn bộ hệ thống chính trị, có thể tạo ra bước phát triển đột phá. Trước hết là đột phá về nhận thức, tiếp đến là về đầu tư, giáo dục, đào tạo và đặc biệt là trong quá trình sáng tạo các sản phẩm, tác phẩm văn hóa mang giá trị kinh tế, tạo nguồn thu nhập cho đất nước.

Thực tế cho thấy, đã có những bộ phim do Việt Nam thực hiện đạt doanh thu rất cao, chỉ trong thời gian ngắn đã thu về hàng trăm tỷ đồng. Điều đó khẳng định văn hóa là lĩnh vực giàu tiềm năng. Nếu có nhận thức sâu sắc, tổ chức chặt chẽ từ khâu ý tưởng, kịch bản, đạo diễn, diễn xuất, quay phim đến marketing, đồng thời tận dụng công nghệ số và mạng xã hội để lan tỏa sản phẩm điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, xuất bản, báo chí… hiệu quả mang lại sẽ rất lớn, cả về tinh thần lẫn vật chất.

Kinh nghiệm từ các nước như Hàn Quốc và Nhật Bản đã cho thấy điều đó. Cách đây vài chục năm, họ cũng tìm hướng phát triển công nghiệp văn hóa và đã có những quyết sách mạnh mẽ, đầu tư cho đào tạo nhân lực, kết hợp truyền thống văn hóa với khoa học, công nghệ hiện đại. Nhờ vậy, họ biến văn hóa thành lực lượng vật chất quan trọng, tạo việc làm, tạo thu nhập lớn và xây dựng thương hiệu quốc gia.

Những kinh nghiệm đó cho thấy, nếu biết khai thác giá trị văn hóa một cách sáng tạo, bài bản và phù hợp quy luật phát triển, văn hóa sẽ trở thành động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế đất nước. Vì vậy, đường lối của Đảng về phát triển công nghiệp văn hóa là đúng đắn, khoa học và phù hợp với xu thế vận động, biến đổi của đất nước cũng như bối cảnh khu vực và quốc tế.

Bộ phim "Mưa đỏ" đạt tổng doanh thu gần 714 tỷ đồng

PV: Trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa mạnh mẽ, theo ông, Nghị quyết số 80-NQ/TW cần được triển khai như thế nào để vừa bảo tồn bản sắc dân tộc vừa hội nhập quốc tế hiệu quả?

PGS. TS Phạm Ngọc Trung: Nhiều quốc gia, kể cả các nước láng giềng với Việt Nam hay các nước phương Tây cũng từng trải qua những tranh luận tương tự trong quá trình phát triển văn hóa. Có quan điểm cho rằng phải tuyệt đối bảo tồn nguyên vẹn truyền thống dân tộc, trong khi có quan điểm khác nhấn mạnh muốn phát triển thì phải tiếp thu văn minh phương Tây. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nếu tuyệt đối hóa một phía thì đều phiến diện.

Quan điểm đúng đắn là kết hợp hài hòa giữa tinh hoa của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam với tinh hoa của văn hóa thế giới. Sự kết hợp đó tạo nên động lực nội sinh từ bên trong và xung lực từ bên ngoài. Nhờ vậy, bản sắc văn hóa Việt Nam được thể hiện trong không gian mới, điều kiện mới, đồng thời các thành tựu của văn minh thế giới được chọn lọc, tiếp thu để làm giàu và hiện đại hóa các giá trị văn hóa dân tộc.

Thực tế đã có những tiết mục nghệ thuật kết hợp nhạc cụ dân tộc như sáo, nhị, trống với piano, violin và các nhạc cụ phương Tây khác. Trước đây, nhiều người cho rằng sự kết hợp này khó khả thi do khác biệt về thang âm, cung bậc nhưng bằng sự sáng tạo của nghệ sĩ trẻ, nhiều tác phẩm đã thành công và được giới chuyên môn quốc tế đánh giá cao, kể cả ở những quốc gia có truyền thống âm nhạc lâu đời như Áo, Anh và Pháp. Điều đó cho thấy, khi truyền thống và hiện đại được kết hợp một cách sáng tạo, văn hóa không những không bị hòa tan mà còn được nâng tầm, lan tỏa và khẳng định giá trị trong dòng chảy chung của thế giới.

PV: Xin cảm ơn PGS. TS Phạm Ngọc Trung!

Mai Trang/VOV.VN

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ