Liên kết thực chất để tạo sức lan tỏa

Doanh nghiệp đầu tàu cần được giao nhiệm vụ dẫn dắt công nghệ, phát triển chuỗi cung ứng trong nước, mở rộng thị trường quốc tế
Đầu tàu phải tạo được thị trường cho doanh nghiệp Việt
Mỗi khu vực doanh nghiệp đều có những lợi thế khác nhau về nguồn lực, tính năng động, công nghệ và mạng lưới thị trường. Tuy nhiên, sự liên kết giữa các khu vực chưa thực sự chặt chẽ; việc chia sẻ thị trường, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung ứng chưa tương xứng. Điều quan trọng không chỉ là có bao nhiêu doanh nghiệp đầu tàu, mà là các doanh nghiệp này có thể kết nối nguồn lực, thị trường và công nghệ như thế nào, qua đó kéo thêm bao nhiêu doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng phát triển.
Vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp, tập đoàn lớn lâu nay thường được nhìn qua quy mô vốn, doanh thu, tài sản và khả năng thực hiện các dự án lớn. Trong giai đoạn mới, vai trò đó cần được đo thêm bằng mức độ tạo thị trường, dẫn dắt công nghệ và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước.
Phát biểu tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp vừa qua, Trung tướng Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel đề xuất sớm xác định doanh nghiệp đầu tàu trong từng lĩnh vực và giao những nhiệm vụ chiến lược phù hợp với năng lực, lợi thế của từng doanh nghiệp. Theo ông, bên cạnh mục tiêu sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp đầu tàu cần được giao nhiệm vụ dẫn dắt công nghệ, phát triển chuỗi cung ứng trong nước, mở rộng thị trường quốc tế, làm chủ công nghệ chiến lược, tạo ra sản phẩm chiến lược và tham gia các dự án trọng điểm quốc gia… để doanh nghiệp nhà nước thực sự phát huy được vai trò dẫn dắt và tạo động lực cho nền kinh tế.
Ông Tào Đức Thắng cũng đề xuất cụ thể hóa chủ trương phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước với tư cách người mua lớn, người đặt hàng lớn để tạo ra thị trường cho doanh nghiệp trong nước. Theo đó, kiến nghị Chính phủ sớm ban hành các cơ chế hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, phương thức tổ chức thực hiện, cũng như cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và năng lực. Bên cạnh đó, nghiên cứu giao thêm cho các doanh nghiệp đầu tàu một số chỉ tiêu phản ánh mức độ lan tỏa như số doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa, giá trị mua sắm trong nước và số doanh nghiệp công nghệ được hỗ trợ phát triển sản phẩm. Khi đó, hiệu quả của một dự án không chỉ được đo bằng tăng trưởng của riêng doanh nghiệp đầu tàu, mà còn bằng khả năng kéo theo sự phát triển của hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam.
Để tạo sức lan tỏa cho toàn nền kinh tế, Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Việt Nam (PetroVietnam) Lê Ngọc Sơn đề xuất một cơ chế phát huy vai trò của các tập đoàn nhà nước đầu tàu. Đó là cho phép các tập đoàn chủ động thiết kế chuỗi liên kết với doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp nước ngoài tại những dự án năng lượng quy mô lớn như chuỗi dự án khí điện Lô B, hạ tầng điện khí LNG và điện gió ngoài khơi; đồng thời giao tỷ lệ nội địa hóa thành một chỉ tiêu.
Những đề xuất như trên cho thấy, liên kết cần được thiết kế ngay từ đầu trong cấu trúc dự án. Khi danh mục công việc, kế hoạch mua sắm, yêu cầu kỹ thuật và mục tiêu nội địa hóa được xác định sớm, doanh nghiệp trong nước sẽ có thời gian đầu tư thiết bị, đào tạo nhân lực và nâng chuẩn quản trị. Theo cách đó, mỗi đồng vốn nhà nước có thể kéo theo nhiều đồng vốn, năng lực sản xuất và năng lực tự chủ của khu vực tư nhân trong nước cũng như khu vực đầu tư nước ngoài.
Thu hút FDI gắn với hình thành chuỗi nhà cung ứng trong nước
Việt Nam đã thành công trong thu hút nhiều dự án FDI quy mô lớn, nhưng sức lan tỏa tới doanh nghiệp trong nước vẫn chưa tương xứng. Chính vì vậy, Nghị quyết số 10-NQ/TW vừa được ban hành đã thể hiện rõ định hướng chuyển từ thu hút số lượng sang chất lượng, gắn ưu đãi đầu tư chặt chẽ hơn với kết quả chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng Việt Nam và nâng tỷ lệ nội địa hóa.
Điều này không có nghĩa chỉ đặt thêm nghĩa vụ cho doanh nghiệp FDI. Muốn tăng mua sắm trong nước, phải đồng thời nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam. Để tham gia chuỗi, nhà cung ứng phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, thời gian giao hàng, truy xuất nguồn gốc, quản trị rủi ro và đổi mới. Chính sách liên kết vì vậy phải tác động đồng thời vào cả phía cầu và phía cung. Nếu chỉ đặt mục tiêu tăng nội địa hóa mà không giúp doanh nghiệp trong nước nâng chuẩn, liên kết sẽ khó đi vào thực chất.
Các chương trình phát triển nhà cung ứng cần được thiết kế theo ngành và theo chuỗi, thay vì chỉ tổ chức các cuộc kết nối ngắn hạn. Với từng nhóm sản phẩm, cần xác định khoảng cách về công nghệ, chứng nhận, năng suất và nhân lực, sau đó xây dựng lộ trình hỗ trợ cụ thể. Doanh nghiệp đầu tàu và doanh nghiệp FDI có thể tư vấn kỹ thuật, chia sẻ tiêu chuẩn, đặt hàng thí điểm hoặc cùng phát triển sản phẩm để giúp doanh nghiệp Việt từng bước đi vào chuỗi.
Liên kết với khu vực FDI vì vậy không thể chỉ được đo bằng số cuộc gặp gỡ hay biên bản hợp tác. Kết quả cuối cùng phải là số doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực trở thành nhà cung ứng, số sản phẩm được nâng cấp, số hợp đồng được ký kết và số công đoạn có giá trị cao hơn được thực hiện trong nước.
Xây dựng chuỗi liên kết, đo lường bằng các chỉ tiêu cụ thể
Liên kết thực chất cần được lượng hóa bằng những kết quả có thể đo đếm. Bộ Tài chính đề xuất, cần thiết lập cơ chế liên kết và đo lường kết quả giữa ba khu vực doanh nghiệp. Theo đó, lựa chọn các ngành có khả năng lan tỏa cao như năng lượng, điện lực, dầu khí, viễn thông, hạ tầng số, logistics, chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi xanh để xây dựng chuỗi liên kết. Cùng với đó, xác định các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân lớn làm hạt nhân; doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các công đoạn cung ứng, dịch vụ kỹ thuật, thiết kế, bảo trì và logistics. Sử dụng các chỉ tiêu như tỷ lệ mua sắm trong nước, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi, giá trị hợp đồng cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa, số dự án chuyển giao công nghệ, số lao động kỹ thuật được đào tạo… để đo lường, đánh giá kết quả.
Trong từng ngành, cần xác định doanh nghiệp hạt nhân, xây dựng danh mục nhu cầu mua sắm và thiết lập chương trình phát triển nhà cung ứng. Cùng với đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhu cầu của doanh nghiệp lớn và năng lực của nhà cung ứng trong nước. Thông tin minh bạch sẽ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ động đầu tư, còn doanh nghiệp đầu tàu có thêm lựa chọn đối tác. Các chương trình kết nối cũng phải được theo dõi đến khi hình thành hợp đồng và đơn hàng, thay vì dừng ở số cuộc gặp hay biên bản ghi nhớ.
Tuy nhiên, không nên biến tỷ lệ nội địa hóa thành một con số hành chính. Giá trị cốt lõi phải là năng lực mới được hình thành trong doanh nghiệp Việt Nam: làm chủ công nghệ, nâng chuẩn sản xuất, đáp ứng thị trường quốc tế và có khả năng tham gia nhiều chuỗi khác nhau. Bởi vậy, không chỉ cần quan tâm tỷ lệ nội địa hóa, mà còn phải xem doanh nghiệp Việt Nam tham gia ở công đoạn nào, có tiếp nhận được công nghệ, nâng cao năng suất và tiến lên những khâu có giá trị gia tăng cao hơn hay không.
Liên kết chỉ thực sự có ý nghĩa khi làm gia tăng năng lực của doanh nghiệp Việt và phần giá trị được giữ lại trong nền kinh tế. Khi hợp đồng, đơn hàng, chuyển giao công nghệ và sự trưởng thành của nhà cung ứng trở thành thước đo, vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn mới chuyển hóa thành sức bật chung.
Đỗ Lê
4 giờ trước
6 giờ trước
18 giờ trước
23 giờ trước
23 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
7 phút trước
5 phút trước
6 phút trước
7 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
3 phút trước
9 phút trước