Hiệu quả từ mô hình 'nuôi' rừng gỗ lớn ở Bảo Ái
Hiện nay, trên những triền đồi ấy, ngày càng nhiều diện tích rừng được người dân giữ lại thêm vài năm để phát triển theo hướng rừng gỗ lớn. Phía sau quyết định này là hành trình thay đổi tư duy của người trồng rừng. Nhờ hiểu rõ kỹ thuật, thị trường và giá trị kinh tế của rừng gỗ lớn, người dân đã không còn vội vàng khai thác sớm như trước.

Nhiều diện tích rừng trồng ở xã Bảo Ái đang được người dân kéo dài chu kỳ khai thác để phát triển theo hướng rừng gỗ lớn.
Bài toán "cơm áo" và quyết định ngược dòng
Ở Bảo Ái, nhắc đến người tiên phong phát triển rừng gỗ lớn, cán bộ kiểm lâm nghĩ ngay đến ông Nghiêm Xuân Thành, ở thôn Ngòi Bang. Không chỉ sở hữu diện tích rừng lớn, ông còn là một trong những người đầu tiên chứng minh: Muốn làm giàu từ rừng thì phải biết chờ đợi.
Hơn ba mươi năm trước, ông Thành từng theo bạn bè vào rừng khai thác gỗ. Khi ấy, những cánh rừng tự nhiên còn nhiều cây gỗ lớn. Hết chuyến này đến chuyến khác, những thân cây cả người ôm lần lượt bị đốn hạ. Nhưng rồi gỗ quý cũng cạn dần, đồi núi xác xơ, còn cuộc sống của nhiều gia đình vẫn quanh quẩn trong cảnh thiếu trước hụt sau.
Khi Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho người dân, vợ chồng ông Thành nhận những quả đồi chỉ toàn lau lách để bắt đầu gây dựng lại từ đầu.
"Ngày ấy chẳng có gì ngoài sức lao động. Hai vợ chồng mang cơm lên đồi, ngày ngày đào hố, phát cỏ, trồng từng cây keo, cây bồ đề. Nhiều hôm làm từ sáng đến tối mịt mới trở về", ông Thành nhớ lại.
Sau 8 năm, ba héc-ta rừng đầu tiên cũng đến kỳ khai thác. Sau khi trừ chi phí giống, phân bón, công chăm sóc và vận chuyển, số tiền còn lại chỉ khoảng 80 triệu đồng. Cầm xấp tiền trên tay, ông chợt nhận ra nếu cứ khai thác khi cây vừa đủ tuổi làm gỗ nguyên liệu thì rất khó tích lũy để thoát nghèo. Tiền bán rừng lại tiếp tục dùng để mua giống, mua phân bón cho chu kỳ tiếp theo. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại, còn cuộc sống vẫn chưa có nhiều đổi khác.
Nghĩ là làm. Ông bàn với vợ giữ lại gần 7 ha rừng keo, quyết không bán sớm như trước. Đó là quyết định không hề dễ dàng. Những năm ấy, tiền nuôi con ăn học và chi phí sinh hoạt luôn đè nặng lên vai hai vợ chồng. Không ít lần thương lái tìm đến trả giá, chỉ cần gật đầu là có ngay một khoản tiền để trang trải cuộc sống. Nhưng rồi ông lại từ chối.
Để giữ được những cánh rừng, ông Thành đi làm đủ nghề, từ bốc vác, làm cửu vạn đến khai thác đá đỏ ở vùng hồ Thác Bà. Ở nhà, vợ ông nuôi thêm lợn, gà để lấy ngắn nuôi dài. Khi rừng bắt đầu khép tán, ông chỉ tỉa những cây nhỏ, cây sinh trưởng kém để có thêm thu nhập, còn những cây khỏe mạnh tiếp tục được giữ lại.
"Muốn có tiền ngay thì bán rừng non. Nhưng muốn rừng trả công xứng đáng thì phải biết đợi", ông Thành từng chia sẻ.
Hơn mười năm sau, những cây keo ngày nào giờ đã cao vút, thân thẳng, đường kính lớn hơn nhiều so với chu kỳ khai thác thông thường. Chỉ tính riêng lứa rừng gỗ lớn đầu tiên, gia đình ông thu khoảng 300 - 400 triệu đồng/ha, cao gấp nhiều lần so với những chu kỳ khai thác trước đây.

Người dân xã Bảo Ái khai thác rừng trồng sau khi kéo dài chu kỳ kinh doanh, góp phần nâng cao giá trị kinh tế.
Thành quả từ lựa chọn năm nào đã thay ông trả lời. Từ mô hình của gia đình ông Thành, ngày càng nhiều hộ trồng rừng ở Bảo Ái mạnh dạn kéo dài chu kỳ kinh doanh, chuyển từ khai thác sớm sang "nuôi" rừng gỗ lớn.
Thay đổi cách nghĩ để giữ rừng lâu hơn
Nếu như trước đây nhiều người xem lựa chọn của ông Nghiêm Xuân Thành là khác thường thì hiệu quả từ cách làm của ông đã trở thành câu trả lời thuyết phục nhất. Từ một hộ tiên phong, mô hình phát triển rừng gỗ lớn dần lan sang nhiều hộ khác; người dân tìm đến học hỏi cách chăm sóc và tính toán hiệu quả kinh tế.
Theo ông Hoàng Xuân Hiểu, kiểm lâm viên Tổ Kiểm lâm địa bàn xã Bảo Ái, trở ngại lớn nhất của người trồng rừng trước đây không hẳn là thiếu đất hay thiếu vốn, mà là thiếu thông tin. "Nhiều hộ chỉ quen với chu kỳ 5 - 6 năm là khai thác vì nghĩ để lâu cũng không mang lại giá trị cao hơn. Họ chưa hình dung được sự khác biệt giữa gỗ nguyên liệu và gỗ lớn, chưa biết yêu cầu của thị trường cũng như lợi ích của quản lý rừng bền vững. Khi chưa có đầy đủ thông tin thì rất khó thay đổi cách làm", ông Hiểu chia sẻ.
Theo ông Hoàng Xuân Hiểu, trước đây rừng keo thường được khai thác sau 4 - 5 năm, mỗi héc-ta chủ yếu chỉ cho vài chục mét khối gỗ nguyên liệu, thu về khoảng 70 - 80 triệu đồng trước khi trừ chi phí. Khi kéo dài chu kỳ lên trên 10 năm, cây đạt đường kính lớn, sản lượng gỗ tăng lên nhiều lần, đủ tiêu chuẩn chế biến gỗ xẻ nên giá bán cũng cao hơn đáng kể.
Không chỉ giá trị kinh tế tăng, chi phí chăm sóc cũng giảm dần theo thời gian. Từ năm thứ bảy trở đi, khi rừng bắt đầu khép tán, lượng cỏ dại và thực bì giảm mạnh, chủ rừng hầu như không phải phát dọn thường xuyên như giai đoạn đầu. Với lợi thế này, chính quyền địa phương vừa vận động người dân giữ rừng lâu hơn, vừa khuyến khích chăn nuôi, trồng cây dược liệu dưới tán theo phương châm "lấy ngắn nuôi dài".
Nhưng để người dân giữ rừng lâu hơn, điều cần thay đổi trước tiên lại không phải là cây rừng, mà là cách nghĩ của người trồng rừng. Từ thực tế đó, chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm kiên trì đưa thông tin, kỹ thuật và kinh nghiệm làm rừng đến với từng thôn, từng hộ. Những lớp tập huấn, buổi hướng dẫn ngay tại hiện trường hay các chuyến tham quan mô hình đã giúp bà con nắm vững kỹ thuật chăm sóc rừng và hiểu rõ hơn giá trị của rừng gỗ lớn và nhu cầu của thị trường.

Người dân xã Bảo Ái tham quan mô hình rừng gỗ lớn để học hỏi kinh nghiệm, từng bước thay đổi tư duy sản xuất lâm nghiệp.
"Có những điều giải thích nhiều lần bà con vẫn chưa hình dung được, nhưng chỉ cần đưa đến tận nơi, nhìn thấy những cây keo đường kính lớn bán được giá cao hơn nhiều so với gỗ nguyên liệu thì cách nghĩ thay đổi rất nhanh. Người dân tin vì đó là mô hình thực tế ngay tại địa phương", ông Hiểu nói.
Gia đình bà Nguyễn Thị Hà, thôn Ngòi Bang, hiện có khoảng 20 ha rừng keo và bồ đề. Theo bà Hà, trước đây cứ đến kỳ là gia đình bán vì sợ gió bão, sâu bệnh làm giảm giá trị rừng. Nay được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, hiểu hơn về nhu cầu thị trường nên nhiều diện tích được giữ lại để phát triển theo hướng rừng gỗ lớn.
"Bán sớm thì có tiền ngay nhưng giá trị không cao. Để thêm vài năm, cây lớn, gỗ đẹp, bán được giá hơn nhiều. Bây giờ chúng tôi không còn nóng ruột như trước nữa", bà Hà chia sẻ.
Thành quả từ cách nghĩ mới
Sự thay đổi cách nghĩ ấy đã lan rộng trong cộng đồng. Từ chỗ chỉ quan tâm đến sản lượng gỗ sau mỗi chu kỳ khai thác, nhiều hộ đã bắt đầu chú trọng chất lượng rừng, giá trị kinh tế lâu dài và các yêu cầu của thị trường. Thông tin đến gần hơn cũng là lúc tư duy làm rừng của người dân từng bước thay đổi.
Xã Bảo Ái hiện có hơn 9.056 ha rừng, với độ che phủ đạt 52,86%. Trong đó, hơn 2.000 ha rừng trồng keo, bạch đàn, bồ đề và quế của 670 hộ gia đình, chủ rừng đã được cấp Chứng nhận quản lý rừng bền vững FSC-FM, tạo điều kiện nâng cao giá trị gỗ rừng trồng và mở rộng cơ hội tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao hơn.

Chứng nhận quản lý rừng bền vững FSC - FM góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho rừng trồng ở xã Bảo Ái.
Theo ông Hoàng Quang - Phó Chủ tịch UBND xã Bảo Ái, mục tiêu địa phương hướng tới không chỉ là tăng diện tích rừng hay sản lượng gỗ khai thác, mà quan trọng hơn là giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất.
"Khi người dân hiểu được giá trị của rừng gỗ lớn, nắm được kỹ thuật chăm sóc, các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và thông tin thị trường, họ sẽ chủ động lựa chọn hướng sản xuất phù hợp, không còn phụ thuộc vào cách làm cũ. Đó cũng là nền tảng để nghề rừng phát triển bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân", ông Hoàng Quang cho biết.

Những cây rừng được kéo dài chu kỳ khai thác đang mang lại giá trị kinh tế cao hơn cho người trồng rừng ở Bảo Ái.
Điều đáng mừng nhất hiện nay không chỉ là diện tích hay số héc-ta rừng đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững liên tục tăng, mà chính là sự thay đổi trong tư duy của người dân. Thay vì tranh thủ khai thác sớm như trước, nhiều hộ trồng rừng tại Bảo Ái đã chủ động kéo dài chu kỳ, chấp nhận thu hoạch muộn hơn để nâng cao giá trị kinh tế và hướng tới phát triển bền vững.
Chiều xuống trên những triền đồi Bảo Ái, gió vẫn rì rào qua những cánh rừng keo, rừng quế đang bước vào tuổi trưởng thành. Ở nhiều quả đồi, người dân không còn thấp thỏm chờ ngày bán rừng như trước, mà kiên nhẫn chăm sóc để cây thêm tuổi, thân thêm lớn.
Từ bước đi tiên phong của ông Nghiêm Xuân Thành đến sự hưởng ứng của nhiều hộ dân, tư duy sản xuất mới đã thực sự bén rễ trên những triền đồi Bảo Ái. Được tiếp cận kỹ thuật và thông tin đầy đủ, những cánh rừng gỗ lớn ngày càng vươn xa, mở ra sinh kế dài lâu cho người vùng cao.
Đợi một cánh rừng lớn lên có thể mất hơn mười năm. Nhưng ý nghĩa hơn cả là người dân Bảo Ái đã tin rằng: giữ rừng lâu hơn chính là giữ lại cơ hội làm giàu bền vững cho chính mình.
Nguyễn Văn Thông
20 giờ trước
2 giờ trước
1 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước