🔍
Chuyên mục: Xã hội

Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý: Cụ thể hóa tiêu chí, tăng cường giám sát, đẩy mạnh chuyển đổi số

12 giờ trước
Luật Trợ giúp pháp lý được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý của người dân, nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả của công tác trợ giúp pháp lý… Để đạt các mục tiêu đó, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện theo hướng rõ ràng hơn, chặt chẽ hơn, tránh việc áp dụng tùy nghi, thiếu thống nhất sau này.

Có tiêu chí cụ thể ưu tiên phân bổ ngân sách

Khoản 2, Điều 5 về kinh phí trợ giúp pháp lý, dự thảo Luật đã sửa đổi theo hướng bảo đảm nguồn kinh phí được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm và có sự ưu tiên đối với các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. Đây là nội dung phù hợp với thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu trợ giúp pháp lý ngày càng tăng, nhất là đối với các vụ việc phức tạp, điển hình.

Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai cho thấy, việc bố trí kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý vẫn còn phân tán, thiếu tính ổn định và chưa gắn chặt với hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Nhiều địa phương còn gặp khó khăn trong việc bố trí nguồn lực cho các vụ việc có tính chất phức tạp, kéo dài, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến nhóm yếu thế.

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý được trình Quốc hội sáng 9/4/2026

Vì vậy, kiến nghị quy định rõ hơn nguyên tắc ưu tiên phân bổ ngân sách, không chỉ dừng lại ở “ưu tiên bố trí” mà cần có tiêu chí cụ thể, ví dụ như số lượng vụ việc phức tạp, số lượng đối tượng yếu thế, đặc thù vùng miền... Bổ sung quy định gắn phân bổ kinh phí với kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.

Đối với nội dung “ưu tiên hỗ trợ từ số bổ sung cân đối ngân sách”, cần quy định rõ cơ chế phân bổ, quản lý và thanh quyết toán, tránh tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các địa phương. Đồng thời, làm rõ hơn việc lồng ghép các nguồn lực từ khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý để bảo đảm tính khả thi khi triển khai.

Quy định rõ hơn đối tượng được trợ giúp pháp lý

Đối với Điều 7 về người được trợ giúp pháp lý, dự thảo Luật đã có bước sửa đổi quan trọng theo hướng mở rộng diện đối tượng và bỏ điều kiện chứng minh khó khăn tài chính đối với một số nhóm đặc thù, thể hiện rõ tính nhân văn và phù hợp với thực tiễn.

Thực tế cho thấy, việc yêu cầu chứng minh điều kiện tài chính đối với các nhóm như thân nhân liệt sĩ, người nhiễm chất độc da cam, người khuyết tật… đã gây ra nhiều rào cản hành chính và chưa thể hiện đầy đủ chính sách ưu đãi của Nhà nước. Do đó, việc sửa đổi theo hướng mở rộng đối tượng là hoàn toàn cần thiết. Tuy nhiên, để quy định này thực sự đi vào cuộc sống, cần tiếp tục hoàn thiện một số nội dung.

Thứ nhất, đối với các nhóm đối tượng đã được liệt kê tại các khoản 1, 2, 7, Điều 7, cần khẳng định rõ nguyên tắc được hưởng trợ giúp pháp lý không kèm điều kiện tài chính, tránh cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng.

Thứ hai, đối với người dân tộc thiểu số (khoản 6), dự thảo Luật hiện vẫn gắn với điều kiện cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều người dân tộc thiểu số rất ít người sinh sống phân tán, không thuộc vùng đặc biệt khó khăn nhưng vẫn gặp rào cản lớn trong tiếp cận pháp luật. Vì vậy, kiến nghị mở rộng phạm vi đối tượng này theo hướng không phụ thuộc hoàn toàn vào địa bàn cư trú, đặc biệt đối với các dân tộc rất ít người.

Các đại biểu nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý được trình Quốc hội sáng 9/4/2026

Thứ ba, đối với người gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn (khoản 10), đây là quy định mới phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, cần quy định rõ tiêu chí xác định “khó khăn đột xuất” và phạm vi vụ việc được trợ giúp, tránh tình trạng áp dụng tùy tiện hoặc phát sinh thủ tục hành chính mới.

Thứ tư, đối với người nước ngoài theo điều ước quốc tế (khoản 11), việc bổ sung là cần thiết để nội luật hóa các cam kết quốc tế. Tuy nhiên, cần làm rõ cơ chế xác định đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ quan có thẩm quyền xác nhận, bảo đảm thống nhất với các điều ước quốc tế và pháp luật có liên quan.

Thứ năm, đối với nhóm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi tham gia tố tụng (khoản 4), dự thảo Luật đã mở rộng rất đầy đủ. Tuy nhiên, cần nghiên cứu bổ sung quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức trợ giúp pháp lý, bảo đảm các đối tượng này được tiếp cận trợ giúp pháp lý kịp thời, ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng.

Thứ sáu, đối với nhóm cá nhân bị thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (khoản 9), cần làm rõ tiêu chí “không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” để tránh phát sinh tranh chấp hoặc khó khăn trong xác định đối tượng.

Tăng phân cấp nhưng phải kiểm soát

Đối với khoản 2, Điều 11, dự thảo Luật đã sửa đổi theo hướng mở, cho phép Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước được thành lập chi nhánh và giao thẩm quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế tại địa phương. Đây là một bước tiến quan trọng, phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp hiện nay.

Thực tiễn thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cho thấy, quy định về việc thành lập chi nhánh còn mang tính cứng nhắc, chủ yếu gắn với tiêu chí địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi có ít tổ chức hành nghề luật sư. Điều này dẫn đến nhiều bất cập, như có địa phương nhu cầu trợ giúp pháp lý lớn nhưng không đủ điều kiện thành lập chi nhánh, trong khi một số nơi có chi nhánh nhưng hoạt động chưa thật sự hiệu quả do phân bổ chưa hợp lý.

Việc dự thảo Luật chuyển sang cơ chế “căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế” là phù hợp. Tuy nhiên, để quy định này đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện một số nội dung.

ĐBQH Thạch Phước Bình (Vĩnh Long) phát biểu góp ý các dự án luật

Một là, quy định rõ các tiêu chí làm căn cứ thành lập chi nhánh, như số lượng đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý, số vụ việc phát sinh hằng năm, đặc thù địa bàn (miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số…), khoảng cách địa lý đến Trung tâm. Việc này nhằm tránh tình trạng áp dụng tùy nghi, thiếu thống nhất giữa các địa phương.

Hai là, làm rõ hơn cơ chế tổ chức và quản lý chi nhánh, đặc biệt là mối quan hệ giữa Trung tâm và Chi nhánh trong phân công nhiệm vụ, quản lý nhân sự và tài chính. Mặc dù dự thảo Luật đã quy định Trung tâm chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của chi nhánh, nhưng cần có hướng dẫn cụ thể để bảo đảm tính chủ động của chi nhánh trong thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn.

Ba là, bổ sung quy định về cơ chế kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh, làm cơ sở cho việc duy trì, sáp nhập hoặc giải thể chi nhánh khi không còn phù hợp với nhu cầu thực tế.

Bốn là, để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống, cần quy định rõ vai trò phối hợp của Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan tại địa phương trong việc hỗ trợ chi nhánh triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý, giúp người dân tiếp cận dịch vụ ngay từ cơ sở.

Năm là, trong bối cảnh chuyển đổi số, cần nghiên cứu bổ sung quy định theo hướng kết hợp mô hình chi nhánh với các hình thức trợ giúp pháp lý trực tuyến, nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận dịch vụ mà không phụ thuộc hoàn toàn vào việc mở rộng tổ chức bộ máy.

Chuẩn hóa đội ngũ trợ giúp viên pháp lý

Điều 21 về bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý đã quy định rõ thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc bổ nhiệm, cấp thẻ; đồng thời bổ sung các điều kiện loại trừ đối với người không đủ điều kiện. Quy định này góp phần nâng cao tính chặt chẽ, bảo đảm chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, tiệm cận tiêu chuẩn nghề nghiệp của luật sư trong thực tiễn. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.

Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định để bảo đảm chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý. Nguồn: vietnamnet

Đối với các trường hợp không được bổ nhiệm tại khoản 1, Điều 21, cần nghiên cứu quy định rõ hơn về phạm vi và mức độ áp dụng, đặc biệt là đối với các trường hợp “đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm ít nghiêm trọng”. Cần cân nhắc theo hướng phân loại tính chất, mức độ vi phạm để tránh loại bỏ hoàn toàn những người có năng lực chuyên môn nhưng vi phạm không nghiêm trọng, đã được cải tạo tốt.

Đối với quy định tại khoản 2 về bổ nhiệm lại người đã bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ, dự thảo Luật mới chỉ quy định mang tính nguyên tắc. Do đó, kiến nghị cần bổ sung tiêu chí cụ thể để đánh giá “lý do miễn nhiệm, thu hồi không còn”, tránh việc áp dụng tùy nghi, thiếu thống nhất giữa các địa phương.

Đối với quy định tại khoản 3 về cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý khi chuyển công tác, đây là nội dung rất cần thiết để bảo đảm tính liên tục trong hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên, cần bổ sung quy định theo hướng đơn giản hóa thủ tục cấp lại thẻ, đồng thời quy định rõ thời hạn giải quyết để tránh gián đoạn hoạt động trợ giúp pháp lý khi có sự điều động, luân chuyển cán bộ.

Cần nghiên cứu bổ sung quy định về ứng dụng công nghệ số trong quản lý thẻ trợ giúp viên pháp lý, như xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử, mã định danh nghề nghiệp… nhằm thuận tiện trong quản lý và kiểm tra, phù hợp với định hướng chuyển đổi số trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý.

ĐBQH Thạch Phước Bình (Vĩnh Long)

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ