🔍
Chuyên mục: Xã hội

Cộng tác viên trợ giúp pháp lý có thể lấy người công tác tại Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên

8 giờ trước
Dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) mở rộng quy định về người có thể trở thành cộng tác viên TGPL gồm: Nhóm người nghỉ hưu là người giữ hạng, ngạch chuyên viên trở lên làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận… Còn Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) quy định UBND cấp xã chỉ cung cấp thông tin do mình tạo ra.

Mở rộng thêm nhóm cộng tác viên trợ giúp pháp lý

Theo Bộ Tư pháp, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL đã sửa đổi, hoàn thiện quy định về diện người được TGPL. Theo đó, bỏ điều kiện “có khó khăn về tài chính” đối với các nhóm đối tượng: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật vì đây là nhóm đối tượng đặc thù về nhân thân hoặc bị ảnh hưởng về thể chất, tinh thần (nhóm người nhiễm chất độc da cam và người khuyết tật).

Cộng tác viên trợ giúp pháp luật có thể được lấy người công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ảnh: G.B.

Về người thực hiện TGPL, dự thảo Luật bổ sung quy định trợ giúp viên pháp lý chuyển công tác đến Trung tâm TGPL thuộc địa phương khác thì được cấp lại thẻ, vì thẻ trợ giúp viên pháp lý do Chủ tịch UBND cấp tỉnh cấp và quản lý trong phạm vi địa phương, khi chuyển công tác sang địa phương khác và vẫn làm trợ giúp viên pháp lý thì cần thu hồi thẻ ở nơi đã công tác và cấp thẻ ở nơi công tác mới.

Về người có thể trở thành cộng tác viên TGPL, dự thảo Luật mở rộng thêm nhóm người nghỉ hưu là người giữ hạng, ngạch chuyên viên trở lên làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận; bổ sung nhóm viên chức nhà nước có bằng cử nhân luật, có kinh nghiệm làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nơi làm việc để thu hút nguồn lực có trình độ, có kinh nghiệm làm công tác pháp luật tham gia TGPL. Đồng thời, dự thảo Luật không giới hạn địa bàn được đăng ký làm cộng tác viên TGPL.

Về tổ chức thực hiện TGPL, dự thảo Luật sửa đổi điều kiện thành lập Chi nhánh của Trung tâm TGPL theo hướng không giới hạn việc chỉ được thành lập “tại các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm TGPL nhà nước và chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL”.

UBND cấp xã chỉ cung cấp thông tin do mình tạo ra

Bộ Tư pháp cho biết, Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) hướng tới điều chỉnh phạm vi thông tin mà UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp theo hướng UBND cấp xã chỉ cung cấp thông tin do mình tạo ra; không cung cấp thông tin do mình nhận được (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật).

Việc điều chỉnh phạm vi thông tin mà UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp nhằm bảo đảm phù hợp với nguyên tắc phân cấp, phần quyền, tăng cường trách nhiệm của cơ quan tạo ra thông tin. Hiện nay, khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, hàng nghìn nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện đã được chuyển cho chính quyền cấp xã, dẫn đến khối lượng công việc của UBND cấp xã rất lớn. Việc quy định UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình nhận được sẽ tạo áp lực lớn cho UBND cấp xã.

Dự thảo Luật không quy định cụ thể cơ quan đầu mối thực hiện cung cấp thông tin như khoản 2 Điều 9 Luật hiện hành, mà quy định UBND cấp tỉnh, UBND cấp xã xác định đơn vị đầu mối cung cấp thông tin cho công dân (điểm đ và điểm e khoản 2 Điều 10).

Dự thảo Luật cũng quy định khái quát trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin, như trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin; rà soát, phân loại, kiểm tra, bảo đảm tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp; duy trì, lưu giữ, cập nhật cơ sở dữ liệu thông tin...

Về phạm vi thông tin, dự thảo Luật sửa đổi các quy định về thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin công dân được tiêp cận có điều kiện (Điều 15 và Điều 16) để bảo đảm cụ thể, đầy đủ, rõ ràng hơn và thống nhất, đông bộ với quy định của pháp luật có liên quan. Việc tiếp cận thông tin thuộc dữ liệu cá nhân thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Việc tiếp cận có điều kiện đối với tài liệu lưu trữ tại lưu trữ lịch sử thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Khắc Hạnh

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ