Góc nhìn văn hóa: Sức mạnh mềm bắt đầu từ nguồn nhân lực

Ảnh minh họa
Sức mạnh mềm được tạo nên từ trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam
Không phải tài nguyên thiên nhiên mà chính con người mới là tài nguyên không bao giờ cạn của một quốc gia. Trong thời đại cạnh tranh bằng tri thức và sức sáng tạo, nguồn lực ấy đang trở thành điểm khởi đầu của sức mạnh mềm. Ngày nay, sức hấp dẫn về văn hóa, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng truyền cảm hứng đã trở thành những yếu tố tạo nên vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế.
Nhìn ra thế giới, phía sau những thương hiệu văn hóa có sức lan tỏa toàn cầu luôn là một chiến lược đầu tư dài hạn cho con người. Công nghiệp điện ảnh của Hoa Kỳ, làn sóng Hallyu của Hàn Quốc hay ngành công nghiệp anime của Nhật Bản không hình thành từ những dự án ngắn hạn mà được bồi đắp bằng nhiều thế hệ nghệ sĩ, nhà sáng tạo, nhà quản trị, chuyên gia công nghệ và những chính sách phát triển nhân lực bền bỉ, nhất quán.
Đối với Việt Nam, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước. Muốn hiện thực hóa mục tiêu đó, điều quan trọng không chỉ là hoàn thiện thể chế hay tăng nguồn lực đầu tư, mà trước hết phải xây dựng được lực lượng đủ năng lực để sáng tạo, gìn giữ, truyền bá và chuyển hóa những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển.
Trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, phát triển nguồn nhân lực văn hóa cần được nhìn nhận như một chiến lược phát triển quốc gia, chứ không chỉ là câu chuyện đào tạo hay tuyển dụng. Cách tiếp cận ấy lấy nguồn lực con người làm trung tâm của chiến lược phát triển, coi người làm văn hóa là chủ thể trực tiếp tạo dựng giá trị và nâng tầm ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam.
Thực tế cho thấy, nước ta không thiếu nghệ sĩ tài năng, nghệ nhân tâm huyết, nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm hay lớp trẻ đầy khát vọng đổi mới. Điều còn thiếu là một hệ sinh thái đủ mạnh để kết nối những tài năng ấy với công nghệ, thị trường và các ngành công nghiệp sáng tạo, từ đó biến tiềm năng thành những sản phẩm có giá trị, đủ sức cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Khoảng trống ấy thể hiện khá rõ ở chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa. Bên cạnh lực lượng trực tiếp sáng tạo, lĩnh vực này còn cần những nhà quản trị, chuyên gia sở hữu trí tuệ, nhà sản xuất, chuyên gia truyền thông, kỹ sư công nghệ, nhà thiết kế trải nghiệm, chuyên gia dữ liệu và những người am hiểu thị trường. Đây lại chính là những mắt xích còn thiếu hoặc chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Các cơ sở đào tạo cũng đang đứng trước đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, thực tế ảo và các nền tảng số đang làm thay đổi phương thức sáng tạo cũng như cách công chúng tiếp cận các sản phẩm văn hóa. Người làm văn hóa vì thế không chỉ cần chuyên môn nghề nghiệp mà còn phải có tư duy liên ngành, khả năng ứng dụng công nghệ và năng lực Hội nhập quốc tế. Nếu không bắt kịp sự thay đổi ấy, chính lực lượng này sẽ trở thành điểm nghẽn của quá trình phát triển.
Tuy nhiên, môi trường làm nghề chưa thật sự tạo động lực để người tài gắn bó lâu dài. Không ít nghệ sĩ, nghệ nhân, cán bộ văn hóa cơ sở vẫn gặp khó khăn về điều kiện sáng tạo, thu nhập và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Trong khi đó, nhiều người trẻ lựa chọn khởi nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo lại thiếu vốn, thiếu không gian thử nghiệm và thiếu cơ chế hỗ trợ cần thiết.
Vấn đề đặt ra hôm nay không còn là đào tạo thêm bao nhiêu người làm văn hóa, mà là xây dựng được một hệ sinh thái đủ sức nuôi dưỡng tài năng, khuyến khích đổi mới và kết nối hiệu quả giữa văn hóa với khoa học, công nghệ, giáo dục, truyền thông và thị trường. Chỉ khi đó, những giá trị văn hóa mới thực sự được chuyển hóa thành nguồn lực nội sinh, đóng góp thiết thực vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Nguồn nhân lực quyết định tương lai công nghiệp văn hóa
Nếu văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội thì đội ngũ làm văn hóa chính là những người tạo dựng và bồi đắp nền tảng ấy. Mọi chủ trương, chính sách hay chiến lược, dù được chuẩn bị công phu đến đâu, cũng chỉ có thể tạo ra chuyển biến thực chất khi được hiện thực hóa bởi những người có tri thức, bản lĩnh, năng lực nghề nghiệp và khát vọng cống hiến.
Việc xây dựng Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 gắn với chiến lược phát triển nguồn nhân lực vì thế mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của một ngành. Đó là chiến lược chuẩn bị nguồn lực con người cho sự phát triển lâu dài của đất nước trong thời đại kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, muốn tạo bước đột phá cần phát triển đồng bộ nhân lực quản lý văn hóa, văn nghệ sĩ, nghệ nhân, trí thức, lực lượng hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hóa, doanh nhân sáng tạo cũng như đội ngũ chuyên gia công nghệ phục vụ phát triển văn hóa. Mỗi lực lượng giữ một vai trò khác nhau nhưng đều là mắt xích không thể thiếu trong chuỗi giá trị của ngành công nghiệp văn hóa hiện đại.
Ranh giới giữa văn hóa và công nghệ đang dần được xóa nhòa. Một bảo tàng có thể mở rộng không gian tiếp cận thông qua nền tảng số; một làn điệu dân ca hay một nghề thủ công truyền thống có thể đến với công chúng toàn cầu bằng công nghệ số; một tác phẩm nghệ thuật có thể tạo giá trị mới nhờ dữ liệu lớn, thực tế ảo hoặc trí tuệ nhân tạo. Công nghệ đang mở rộng không gian phát triển cho văn hóa, nhưng công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được vận hành bởi đội ngũ chuyên gia công nghệ có đủ trình độ, tư duy đổi mới để phục vụ phát triển văn hóa.
Từ yêu cầu ấy, đổi mới đào tạo cần được coi là một trong những khâu đột phá. Các cơ sở đào tạo không chỉ truyền dạy kỹ năng nghề nghiệp mà còn phải trang bị năng lực sáng tạo, tư duy liên ngành, khả năng quản trị dự án, hiểu biết về thị trường, sở hữu trí tuệ, truyền thông số và hội nhập quốc tế. Người làm văn hóa của hôm nay không chỉ sáng tạo tác phẩm mà còn phải biết đưa tác phẩm đến với công chúng, biết bảo vệ giá trị sáng tạo và thích ứng với những thay đổi rất nhanh của thời đại.
Tuy nhiên, đào tạo chỉ là một nửa của bài toán. Điều quan trọng không kém là tạo lập môi trường để người tài có thể phát huy năng lực và yên tâm cống hiến. Một lĩnh vực đòi hỏi sức sáng tạo cao sẽ khó phát triển nếu người làm nghề luôn phải loay hoay với áp lực về thu nhập, điều kiện làm việc hay cơ hội phát triển nghề nghiệp.
Từ thực tế đó, cùng với đổi mới cơ chế đào tạo, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh người làm văn hóa. Mỗi nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà nghiên cứu, nhà thiết kế hay doanh nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa đều cần được tạo điều kiện để phát huy năng lực, được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và được tiếp cận những nguồn lực cần thiết cho hoạt động sáng tạo. Khi tài năng được trân trọng và có môi trường phát triển, sức sáng tạo của xã hội sẽ được khơi dậy mạnh mẽ hơn.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã mở ra định hướng quan trọng về xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát triển công nghiệp văn hóa và phát huy vai trò chủ thể của con người. Đây không chỉ là định hướng phát triển một lĩnh vực mà còn là bước chuẩn bị cho tương lai, khi văn hóa ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sức hấp dẫn của quốc gia.
Nhìn rộng hơn, chăm lo cho những người đang sáng tạo và gìn giữ các giá trị văn hóa cũng chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh quốc gia. Một đất nước có thể sở hữu kho tàng di sản đồ sộ, nhưng nếu thiếu những người biết kể câu chuyện về di sản bằng ngôn ngữ của thời đại thì những giá trị ấy vẫn khó chuyển hóa thành lợi thế phát triển. Ngược lại, khi có nhiều tài năng sáng tạo đủ sức dẫn dắt, di sản sẽ trở thành tài sản; bản sắc trở thành thương hiệu; còn văn hóa sẽ trở thành nguồn lực góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Nhiều năm qua, hình ảnh Việt Nam hòa bình, giàu truyền thống và giàu khát vọng phát triển ngày càng được bạn bè quốc tế biết đến. Hình ảnh ấy cần tiếp tục được bồi đắp bằng những tác phẩm có giá trị, những sản phẩm công nghiệp văn hóa mang bản sắc Việt Nam và những con người đủ năng lực để đưa tinh hoa văn hóa dân tộc hội nhập với thế giới mà vẫn giữ được cốt cách riêng.
Chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự phát triển của công nghiệp văn hóa đang mở ra nhiều cơ hội mới cho Việt Nam. Đây không chỉ là thời điểm để khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên văn hóa, mà còn là cơ hội để hình thành một thế hệ nhân lực có khả năng kết nối truyền thống với hiện đại, bản sắc dân tộc với tinh hoa nhân loại, sáng tạo nghệ thuật với khoa học - công nghệ và thị trường. Chính đội ngũ ấy sẽ trực tiếp tạo ra những sản phẩm văn hóa có giá trị, góp phần nâng cao vị thế của văn hóa Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Muốn hiện thực hóa mục tiêu đó, phát triển nguồn nhân lực cần được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển văn hóa quốc gia. Đào tạo phải gắn với nhu cầu thực tiễn; sử dụng phải dựa trên năng lực và hiệu quả; chính sách đãi ngộ phải đủ sức thu hút, giữ chân người tài; môi trường sáng tạo phải khuyến khích những ý tưởng mới, chấp nhận thử nghiệm và tôn trọng sự khác biệt. Khi các khâu ấy được kết nối đồng bộ, tiềm năng sáng tạo của đội ngũ làm văn hóa mới có điều kiện phát huy trọn vẹn.
Việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mở ra tầm nhìn mới cho phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Mục tiêu xây dựng văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước chỉ có thể trở thành hiện thực khi được cụ thể hóa bằng những chính sách thiết thực đối với những người trực tiếp sáng tạo, gìn giữ và truyền tiếp các giá trị văn hóa.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa.” Đến hôm nay, tư tưởng ấy vẫn còn nguyên giá trị. Xây dựng con người không chỉ là mục tiêu của phát triển văn hóa mà còn là điều kiện để văn hóa phát huy vai trò dẫn dắt sự phát triển bền vững của đất nước.
Một quốc gia có thể sở hữu nhiều di sản quý giá, nhiều công trình văn hóa quy mô hay bề dày truyền thống đáng tự hào. Song, những giá trị ấy chỉ thực sự trở thành lợi thế khi được tiếp nối bởi đội ngũ đủ năng lực sáng tạo, đủ bản lĩnh đổi mới và đủ khát vọng cống hiến. Chính họ sẽ làm giàu thêm bản sắc dân tộc, đưa các giá trị văn hóa bước vào đời sống hiện đại và chuyển hóa thành nguồn lực phát triển.
Những di sản cha ông để lại sẽ mãi chỉ là ký ức nếu không được tiếp nối bởi những thế hệ đủ tri thức và khát vọng sáng tạo. Một nền văn hóa cũng khó có thể trở thành sức mạnh mềm nếu thiếu những thế hệ biết làm giàu các giá trị truyền thống bằng tư duy của thời đại. Vì vậy, đầu tư cho những người đang gìn giữ và sáng tạo các giá trị văn hóa không chỉ là đầu tư cho một lĩnh vực, mà chính là đầu tư cho nội lực quốc gia, cho năng lực cạnh tranh và cho tương lai phát triển bền vững của đất nước.
Nguyễn Tiến Dũng
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
9 ngày trước
10 ngày trước
10 ngày trước
13 ngày trước
36 phút trước
40 phút trước
1 giờ trước
5 giờ trước
19 phút trước
48 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước