Gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp, khơi thông động lực tăng trưởng

Nhiều chuyên gia cho rằng, tăng trưởng hai con số cần bắt đầu từ cải cách vi mô.
Có 4 điểm nghẽn cản trở sự phát triển
Tại Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số” diễn ra ngày 14/7, TS Phạm Anh Tuấn cho biết, hiện có 4 điểm nghẽn cản trở sự phát triển của doanh nghiệp cũng như mục tiêu tăng trưởng cao là: Thể chế (chi phí tuân thủ, tính ổn định, thực thi); nguồn lực (vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ, dữ liệu); thị trường (đầu ra, tiêu chuẩn, liên kết chất lượng) và đổi mới (R&D - Nghiên cứu và Phát triển, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh).
Về nguồn lực, doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn, đất đai, công nghệ và dữ liệu. “Trong 6 tháng đầu năm, lãi suất của hệ thống ngân hàng thương mại tăng lên cao khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận vốn... Chúng ta nói dữ liệu là nguồn lực mới của nền kinh tế số, tuy nhiên doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có cách nào để tiếp cận được dữ liệu”, ông Phạm Anh Tuấn nêu.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nhìn nhận, những rào cản lớn nhất hiện nay đối với doanh nghiệp là khả năng tiếp cận vốn, đất đai và công nghệ; chi phí tuân thủ pháp luật và hệ thống chính sách vẫn thiên về hỗ trợ trước mắt hơn là tạo nền tảng phát triển dài hạn.
Đề cập về mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030, ông Phạm Anh Tuấn cho rằng, khu vực doanh nghiệp Việt Nam chính là chủ thể trung tâm quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu này. Tuy nhiên, điểm lại một số mục tiêu về số lượng và chất lượng doanh nghiệp mà Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân đề ra, đại diện Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, đây là những mục tiêu không hề dễ dàng.
“Chúng ta phấn đấu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế. Thống kê đến đầu năm 2026 cho thấy, có khoảng trên 1 triệu doanh nghiệp. Như vậy, 5 năm tiếp theo phải thêm được ít nhất 200.000 doanh nghiệp mỗi năm. Tuy nhiên thực tế trong 10 năm qua, chưa năm nào vượt được con số 100.000 doanh nghiệp tăng thêm mỗi năm”, ông Phạm Anh Tuấn dẫn chứng.
Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cũng dẫn các số liệu mới nhất của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các cơ quan thống kê cũng phản ánh về thực trạng chất lượng và sức khỏe doanh nghiệp.
Trong đó, số lượng doanh nghiệp báo lỗ vẫn cao hơn số doanh nghiệp báo lãi trong 6 tháng đầu năm 2026. Dù số doanh nghiệp tăng thêm rất tốt, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng cao tương đối, gần 24.000 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 94,7% so với cùng kỳ.
Không chỉ vậy, vẫn có tới 70% doanh nghiệp có số vốn dưới 10 tỷ đồng, con số chưa cải thiện nhiều trong 10 năm qua; 81,4% doanh nghiệp đang sử dụng dưới 10 lao động và tỷ suất lợi nhuận bình quân (số liệu mới nhất từ năm 2024) chỉ đạt 2,2%, thấp hơn lãi suất ngân hàng.
Theo một số chuyên gia kinh tế, “sức khỏe” của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất nhiều điểm băn khoăn. Mặc dù Việt Nam có một vài doanh nghiệp lớn đang phát triển rất tốt nhưng nhìn chung các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ đang gặp rất nhiều khó khăn.
Trên cơ sở nhận định những điểm nghẽn và thách thức trên, TS Phạm Anh Tuấn đề xuất có những giải pháp cải thiện cho chính sách vi mô, hỗ trợ doanh nghiệp. Trong đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp theo năng lực và giai đoạn phát triển, trên nguyên tắc hỗ trợ phải tạo năng lực mới, để năng lực của doanh nghiệp cải thiện về chất, không dừng ở những chính sách hỗ trợ trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, Việt Nam cần có nhóm chính sách vi mô đột phá cải cách thể chế vi mô, khơi thông nguồn lực, phát triển thị trường vốn, thuế hỗ trợ đầu tư, dữ liệu và hạ tầng số, cụm ngành và chuỗi giá trị.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương:
Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi GDP trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, cao nhất trong 16 năm qua. Tuy nhiên, dư địa của các chính sách vĩ mô truyền thống như nới lỏng tiền tệ quy mô lớn hay kích cầu tài khóa diện rộng đang dần thu hẹp. Động lực tăng trưởng mới cần được tìm kiếm từ các chính sách vi mô, những chính sách tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Trọng tâm không còn là kích thích tổng cầu một cách đại trà, mà là tháo gỡ các "điểm nghẽn" ở cấp độ doanh nghiệp, ngành và thị trường; tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.
Gỡ rào cản thể chế, khơi thông dòng vốn
Để kích hoạt tăng trưởng, nhiều ý kiến cho rằng, chính sách của Việt Nam cần chuyển mạnh từ hỗ trợ chung sang chính sách vi mô đột phá, tập trung tháo gỡ rào cản thể chế, giảm chi phí tuân thủ, mở rộng tiếp cận nguồn lực, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cấp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cải cách thể chế cần được đặt ở vị trí trung tâm của chương trình cải cách kinh tế. Chính sách cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ theo năng lực và từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp; nâng cao tính minh bạch và khả năng dự báo của chính sách, khơi thông các nguồn lực về vốn, đất đai, công nghệ, dữ liệu và nhân lực chất lượng cao.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần thúc đẩy phát triển thị trường vốn, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hình thành các cụm ngành có khả năng lan tỏa công nghệ, từ đó tạo ra năng lực cạnh tranh mới thay vì chỉ giải quyết những khó khăn trước mắt.
Nếu cải cách thể chế được xem là điều kiện tiên quyết, thì tín dụng và dòng vốn là nguồn lực giúp doanh nghiệp hiện thực hóa các kế hoạch đầu tư, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất.
Theo PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Học viện Ngân hàng, năm 2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.
Ngoài việc duy trì mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý, ngành Ngân hàng đang từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp. Đáng chú ý, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN đã điều chỉnh nhiều quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, trong đó nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, đồng thời điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi. Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa để các tổ chức tín dụng mở rộng cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Theo PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh, định hướng điều hành tín dụng năm 2026 không đơn thuần là mở rộng quy mô vốn, mà hướng mạnh dòng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các động lực tăng trưởng mới.
Đặc biệt, nhiều khoản vay phục vụ nhà ở xã hội và các dự án quy mô lớn có tác động lan tỏa đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ không tính vào hạn mức tăng trưởng tín dụng. Đây được đánh giá là bước điều hành linh hoạt, vừa kiểm soát rủi ro, vừa tạo điều kiện cho dòng vốn chảy vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao.
Cùng với đó, nhiều chính sách hỗ trợ mới đang được nghiên cứu và triển khai như hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp thực hiện các dự án xanh, gói tín dụng quy mô lớn cho hạ tầng và công nghệ số, mở rộng hoạt động cho thuê tài chính đối với phần mềm, tài sản trí tuệ và dữ liệu, phát triển tín dụng theo chuỗi giá trị dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Tuy nhiên, các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra rằng, những chính sách này chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai đồng bộ với cải cách thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Dòng vốn chỉ có thể tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp có khả năng hấp thụ vốn, có dự án khả thi và hoạt động trong môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch.
Ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế, nay là Cục Thuế):
Chính sách phải tạo động lực mới cho doanh nghiệp
Thuế không chỉ là công cụ huy động nguồn thu ngân sách mà phải trở thành công cụ thúc đẩy phát triển. Thay vì ưu đãi dàn trải, chính sách thuế cần được thiết kế theo hướng có trọng tâm, có thời hạn và có cơ chế đánh giá hiệu quả, tập trung khuyến khích hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao năng suất và phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Đây cũng là cách để nguồn lực tài khóa được phân bổ đúng đối tượng, tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn cho nền kinh tế.
Bài ảnh, clip: Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc
1 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
1 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
17 phút trước
25 phút trước
30 phút trước
10 phút trước
1 phút trước
7 phút trước
11 phút trước
12 phút trước
18 phút trước
31 phút trước