🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Di sản Hà Nội chuyển mình mạnh mẽ trong không gian số

2 giờ trước
Trong dòng chảy chuyển đổi số, di sản văn hóa đang dần bước vào một không gian mới. Ở đó, các giá trị truyền thống được lưu giữ, tái hiện và lan tỏa bằng công nghệ số. Tại Hà Nội, quá trình số hóa di sản đã được triển khai với nhiều cách làm đa dạng, mở ra cơ hội để di sản tiếp cận gần hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Di sản bước vào đời sống đương đại bằng công nghệ

Hà Nội hiện đang sở hữu khối lượng di sản đồ sộ nhất cả nước. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và tác động của thời gian, nhiều di sản đứng trước nguy cơ xuống cấp, mai một. Vì vậy, việc số hóa di sản là yêu cầu cấp thiết, góp phần bảo tồn lâu dài, đồng thời, mở rộng khả năng tiếp cận tới công chúng.

Trình diễn công nghệ 3D mapping trong tour đêm “Tinh hoa đạo học” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Viết Thành

Những năm gần đây, hoạt động số hóa di sản tại Hà Nội đã có những bước chuyển rõ nét. Tại nhiều điểm di tích, hệ thống mã QR được gắn trực tiếp, giúp du khách dễ dàng tra cứu thông tin chỉ bằng thiết bị di động. Các nền tảng thuyết minh tự động (audio guide), bản đồ số, ứng dụng di động cũng đang từng bước hình thành, tạo nên những hành trình trải nghiệm linh hoạt và cá nhân hóa.

Trong không gian bảo tàng và di tích, công nghệ 3D, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) được ứng dụng để tái hiện không gian và hiện vật. Những trải nghiệm này không dừng lại ở việc “xem”, mà mở ra khả năng “tương tác”, giúp công chúng cảm nhận di sản một cách trực quan, sinh động hơn.

Du khách trải nghiệm vở trình diễn 3D mapping “Kinh đô Thăng Long” tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: Ngọc Tú

Tại khu di sản Hoàng thành Thăng Long, chương trình trình diễn 3D mapping “Kinh đô Thăng Long” mang đến cách tiếp cận mới về lịch sử. Tại khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, hệ thống thuyết minh tự động và tour đêm “Tinh hoa đạo học” kết hợp công nghệ trình chiếu, điều khiển chuyển động 3D (Leap Motion) giúp du khách chủ động khám phá không gian di sản theo cách riêng. Tour đêm “Ngọc Sơn – Đêm huyền bí” tại đền Ngọc Sơn (phường Hoàn Kiếm) cũng đem đến trải nghiệm mới cho công chúng khi kết hợp giữa nghệ thuật sắp đặt, sân khấu thực cảnh và công nghệ ánh sáng, âm thanh trong việc kể câu chuyện di sản.

Không chỉ các cơ quan quản lý, nhiều cá nhân và nhóm sáng tạo cũng tham gia vào quá trình số hóa di sản. Từ việc số hóa họa tiết truyền thống, xây dựng nội dung số, đến việc đưa chất liệu di sản vào thiết kế, truyền thông hiện đại, những sáng kiến này góp phần đưa di sản đến gần hơn với đời sống đương đại.

Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Olivier Brochet nhận xét: “Việc số hóa và ứng dụng thực tế ảo tại Hà Nội tạo ấn tượng mạnh mẽ, nhất là với du khách trẻ. Tôi có thể hiểu câu chuyện phía sau, chứ không chỉ nhìn thấy hiện vật. Điều này giúp di sản trở nên gần gũi và hấp dẫn hơn”.

Trải nghiệm một số ứng dụng công nghệ số tại các di tích ở Hà Nội, anh Tạ Thanh An (du khách từ phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình) cho rằng, hiện nay, với sự phát triển của công nghệ số, ở đâu cũng có thể kết nối, tra cứu thông tin tư liệu, rất hữu ích cho người dân. Đặc biệt với khách tham quan là người nước ngoài, ứng dụng công nghệ số trong di sản giúp họ hiểu hơn về các giá trị văn hóa của Việt Nam.

Du khách trải nghiệm công nghệ Leap Motion (điều khiển chuyển động 3D) để khám phá nội dung của các cuốn sách tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Viết Thành

Có thể thấy, số hóa di sản không dừng ở việc lưu trữ, mà đang từng bước trở thành công cụ lan tỏa giá trị văn hóa, phục vụ giáo dục, thúc đẩy du lịch và tạo nền tảng cho các sản phẩm thuộc công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, các hoạt động này hiện vẫn còn phân tán, thiếu tính kết nối, chưa hình thành một hệ sinh thái đồng bộ. Điều đó cho thấy số hóa di sản tại Hà Nội vẫn cần thêm thời gian và nguồn lực để phát triển toàn diện.

Phát huy giá trị di sản trong đời sống đương đại

Từ góc nhìn chuyên môn, các nhà quản lý và giám tuyển đều cho rằng số hóa di sản cần được nhìn nhận như một quá trình toàn diện, thay vì chỉ là giải pháp kỹ thuật.

Trưởng phòng Quản lý di sản (Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội) Phạm Thị Lan Anh cho rằng, số hóa di sản vẫn là một khái niệm mới và dễ bị hiểu giản đơn. Nhiều người đồng nhất số hóa với việc chụp ảnh, hay chuyển đổi dữ liệu sang dạng số, trong khi thực chất, đây là một quy trình đồng bộ, bao gồm kiểm kê, thu thập, chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ.

Các khách mời tại Chương trình thời sự với chủ đề “Số hóa di sản - đánh thức giá trị trong không gian số”, diễn ra tối 5-4, do Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức. Ảnh: Thanh Hải

Theo bà Phạm Thị Lan Anh, mục tiêu của số hóa không dừng lại ở lưu trữ, mà hướng tới việc giúp di sản tiếp cận công chúng tốt hơn, từ đó nâng cao khả năng nhận thức và hiểu biết về giá trị văn hóa. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, khi di sản được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên văn hóa có thể phát huy giá trị trong bối cảnh mới.

Ở góc độ quản lý, số hóa còn giúp nâng cao hiệu quả quản lý theo hướng khoa học, tạo điều kiện kết nối liên ngành và khai thác di sản một cách bền vững. “Số hóa không chỉ là lưu giữ, mà là tạo ra hình thức mới, nội dung mới và cách truyền tải mới cho di sản trong đời sống đương đại”, bà Phạm Thị Lan Anh nhấn mạnh.

Bà Phạm Thị Lan Anh cũng cho rằng, với khối lượng gần 10.000 di sản, Hà Nội cần xác định thứ tự ưu tiên trong số hóa. Trước hết là nhóm di sản có nguy cơ xuống cấp, mai một, hoặc thất lạc dữ liệu, đặc biệt là di sản phi vật thể do các nghệ nhân cao tuổi nắm giữ. Việc số hóa kịp thời sẽ giúp lưu giữ tri thức trước nguy cơ mất mát. Tiếp đến là các di sản tiêu biểu, có giá trị đặc sắc, phản ánh chiều sâu lịch sử và văn hiến của Thăng Long – Hà Nội như Hoàng thành Thăng Long, hay Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Đây là những di sản cần được ưu tiên để lan tỏa rộng rãi tới công chúng.

Nhóm thứ ba là những di sản có tiềm năng phát triển thành sản phẩm văn hóa mới thông qua công nghệ và sáng tạo, từ đó đóng góp vào các ngành công nghiệp văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội.

Du khách trải nghiệm ứng dụng công nghệ số kết hợp trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Hoàng Quyên

Ở góc độ của người làm nghệ thuật, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận định, số hóa không nên dừng ở lưu trữ, mà cần hướng tới khai thác. Theo ông, di sản có thể trở thành nguồn lực kinh tế nếu được đặt trong môi trường số và gắn với các ngành công nghiệp sáng tạo.

Từ kinh nghiệm quốc tế, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn cho biết, nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc đã ứng dụng công nghệ số vào bảo tàng và không gian đô thị, tạo ra những trải nghiệm nghệ thuật mới. Đặc biệt, nghệ thuật đa phương tiện và nghệ thuật số đã góp phần định hình những mô hình phát triển văn hóa hiện đại. Việt Nam có lợi thế lớn khi sở hữu nền tảng di sản phong phú, nếu biết tận dụng công nghệ, di sản có thể được khai thác sâu hơn, tạo ra giá trị mới trong các lĩnh vực như nghệ thuật, thiết kế, du lịch.

Giám tuyển Nguyễn Thế Sơn cũng nhấn mạnh vai trò của nội dung và cách kể chuyện. Công nghệ chỉ là công cụ, còn sức hấp dẫn của sản phẩm phụ thuộc vào cách chuyển hóa dữ liệu di sản thành câu chuyện có chiều sâu, chạm đến cảm xúc công chúng. Khi kết hợp với các phương thức kể chuyện hiện đại, di sản có thể được “làm sống lại”, trở nên gần gũi hơn với đời sống, đặc biệt là với giới trẻ.

Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh, người làm sáng tạo cần liên tục học hỏi, đồng thời giữ được bản sắc riêng. Chính yếu tố sáng tạo sẽ quyết định việc di sản có thể tồn tại lâu dài trong đời sống đương đại hay không.

Từ những bước đi ban đầu, có thể thấy di sản Hà Nội đang từng bước chuyển mình trong không gian số. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp giữa quản lý, công nghệ và sáng tạo, cùng một tầm nhìn dài hạn. Khi được triển khai đồng bộ, số hóa sẽ mở ra khả năng để di sản không chỉ được bảo tồn, mà còn tiếp tục sống, lan tỏa và đóng góp vào sự phát triển bền vững của Thủ đô.

Yên Nga

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ