🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Lan tỏa giá trị nghiên cứu khoa học về phát triển văn hóa Việt Nam

2 giờ trước
Không chỉ dừng ở vai trò lưu giữ, bảo quản, bảo tồn hiện vật, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã khẳng định vị thế một thiết chế văn hóa sống động, không gian đối thoại văn hóa đa sắc màu, đưa những công trình nghiên cứu chuyên sâu đến gần hơn với công chúng, thông qua sức mạnh của công nghệ và tư duy đổi mới sáng tạo.

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã khẳng định vị thế một thiết chế văn hóa sống động.

Cụ thể hóa một trong những nhóm nhiệm vụ trọng tâm được xác định tại Đại hội XIV của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết chiến lược về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết số 80-NQ/TW). Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm cốt lõi, phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Với tinh thần hành động, các cấp ủy, địa phương, đơn vị đã khẩn trương nghiên cứu, quán triệt, chuyển hóa nội dung Nghị quyết thành hành động cụ thể.

Được định vị là một đơn vị đầu ra có tính “trụ cột” của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm), Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Bảo tàng) luôn nỗ lực kiến tạo bản sắc riêng qua cách tiếp cận các lý thuyết dân tộc học, nhân học và bảo tàng học hiện đại, trên cơ sở tôn trọng sự đa dạng văn hóa và đề cao vai trò của cộng đồng. Không chỉ dừng ở vai trò lưu giữ, bảo quản, bảo tồn hiện vật, Bảo tàng đã khẳng định vị thế một thiết chế văn hóa sống động, không gian đối thoại văn hóa đa sắc màu, đưa những công trình nghiên cứu chuyên sâu đến gần hơn với công chúng, thông qua sức mạnh của công nghệ và tư duy đổi mới sáng tạo.

Hiện thực hóa những nghiên cứu mang tính hàn lâm

Một trong những chức năng căn bản của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về khoa học xã hội, trong đó bao gồm những vấn đề cơ bản về phát triển toàn diện con người Việt Nam; các giá trị quốc gia, dân tộc, giá trị gia đình, tiếp thu tinh hoa của văn hóa, văn minh nhân loại; những vấn đề cơ bản và cấp bách về dân tộc, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, văn học, ngôn ngữ, tâm lý học nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gắn liền và không thể tách rời các nhiệm vụ nêu trên là tổ chức các hoạt động điều tra, khai quật, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn, bảo tàng, phát huy những giá trị di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam.

Người Chăm Ninh Thuận chính là những người góp phần giữ văn hóa truyền thống, khi tham gia sửa chữa các ngôi nhà của cộng đồng Chăm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Trong cấu trúc chiến lược của Viện Hàn lâm, Bảo tàng được định vị là một trong bốn "đầu ra" quan trọng, song hành với công tác đào tạo nhân lực chất lượng cao của Học viện Khoa học xã hội; tư vấn chính sách của Viện Dân tộc học và Tôn giáo, Viện Triết học, Viện Nghiên cứu Lịch sử, Viện Nghiên cứu Kinh tế; Nhà xuất bản Khoa học xã hội với các ấn phẩm khoa học và Viện Thông tin Khoa học xã hội. Nếu các Viện nghiên cứu chuyên ngành là nơi "hội tụ" tri thức thì Bảo tàng là nhịp cầu đưa những giá trị ấy lan tỏa sâu rộng đến công chúng. Sự gắn kết thể hiện rõ nét qua mối quan hệ hữu cơ, mang tính cộng sinh giữa các đơn vị nghiên cứu trong Viện Hàn lâm mà điển hình là Viện Nghiên cứu Dân tộc học (nay là Viện nghiên cứu Dân tộc học và Tôn giáo). Kế thừa nền tảng tri thức từ Viện nghiên cứu này, với đội ngũ chuyên gia hàng đầu của ngành dân tộc học, có thể nói, Bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ hiện vật mà còn là kết tinh của những công trình nghiên cứu khoa học có hệ thống để vận dụng đưa vào trong trưng bày một cách khoa học để thu hút công chúng trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu các giá trị di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam đa dạng về loại hình, phong phú về hình thức sinh hoạt.

Thực hiện các mục tiêu Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đã đề ra; “đời sống hóa” các nghiên cứu của Viện Hàn lâm, Bảo tàng đang từng bước góp phần đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số.

Mỗi không gian trưng bày trong Bảo tàng là kết tinh của những công trình nghiên cứu có hệ thống, như: kết quả xác định thành phần dân tộc, nhóm ngữ hệ, từ đó tái hiện sinh động đời sống vật chất và tinh thần của 54 dân tộc Việt Nam theo định hướng có tính khoa học... Dưới sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Viện Hàn lâm, Bảo tàng luôn giữ vững "chất học thuật" đặc trưng để định hình một phong cách bảo tàng theo lối đi riêng trong hệ thống bảo tàng, đó là đề cao tinh thần bình đẳng văn hóa của các dân tộc. Hiện vật trưng bày, giới thiệu trong bảo tàng thể hiện đời sống văn hóa của tất cả 54 dân tộc anh em. Từ đó, kiến tạo không gian Bảo tàng có tính biểu tượng về tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua thủ pháp trưng bày, sắp đặt, cộng hưởng bằng các yếu tố ánh sáng, nghe nhìn và nghệ thuật kể chuyện, đưa những thông điệp có chiều sâu văn hóa của mỗi hiện vật đến với người xem.

Từ "kho lưu trữ" đến hệ sinh thái di sản số

Thực hiện tinh thần các Nghị quyết số 57- NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ và văn hóa, Bảo tàng đã tiên phong trong cuộc cách mạng số hóa hoạt động bảo tàng.

Khách tham quan trao đổi với nghệ nhân về sản phẩm thủ công truyền thống tại Bảo tàng .

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng cho biết, tư duy đổi mới trong nghiên cứu được ứng dụng ngay từ ngày đầu thành lập Bảo tàng và từng bước phát triển. Ngay từ cuối năm 1997, khi nghiên cứu trưng bày đã áp dụng đưa những video clip về đám ma Mường, lễ Lẩu Then của người Tày hoặc nghề dệt thổ cẩm của người Hmông…

Hoạt động giới thiệu văn hóa bản địa được phản ánh sống động như đang kể câu chuyện đời thường của đồng bào các dân tộc. Kết hợp tổ chức các hoạt động trình diễn và biểu diễn, để cộng đồng có cơ hội tự thể hiện và diễn giải di sản văn hóa phi vật thể của chính mình.

Hơn thế, Bảo tàng cũng đã tổ chức các trưng bày có sự tham gia của cộng đồng, người dân được mời tham gia cùng với các nhà nghiên cứu để xây dựng ý tưởng và kể các câu chuyện trong những trưng bày chuyên đề. Với cách làm như thế, Bảo tàng đưa tiếng nói của người dân, chủ thể của văn hóa vào trong trưng bày, đưa kết quả nghiên cứu đến trực tiếp với cộng đồng và công chúng.

Theo ông, hoạt động bảo tàng hiện đại phải đứng vững trên "kiềng ba chân": Khoa học-nghệ thuật-công nghệ.

Một trò chơi dân gian của Hàn Quốc trong chương trình “Trình diễn, giao lưu nghi lễ và trò chơi kéo co Việt Nam-Hàn Quốc”, diễn ra tại Bảo tàng.

Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Tố Quyên, Trưởng phòng Kiểm kê-Bảo quản của Bảo tàng, đến hiện tại, Bảo tàng đang quản lý gần 30.000 hiện vật và hơn 130.000 tư liệu nghe nhìn. Việc chuyển đổi từ hồ sơ giấy sang dữ liệu điện tử tích hợp hình ảnh đa chiều giúp cán bộ chuyên môn tra cứu tức thời, xóa bỏ rào cản hành chính và quan trọng nhất là bảo tồn vĩnh viễn tư liệu gốc trước tác động của thời gian.

Không chỉ dừng lại ở quản trị nội bộ, Bảo tàng đang đẩy mạnh xu hướng "Bảo tàng thông minh" tại Việt Nam. Bằng việc ứng dụng công nghệ quét 3D và hệ thống kiểm soát môi trường hiện đại, Bảo tàng đã tạo ra các "bản sao số" chuẩn xác đến từng milimet. Đây là minh chứng cho việc tri thức hàn lâm khi được "số hóa" sẽ trở thành tài sản công cộng, phá bỏ mọi giới hạn về không gian và thời gian để công chúng tiếp cận và khai thác tư liệu thuận lợi về kho tàng di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam trong cả hiện tại và tương lai.

Triết lý vận hành của Bảo tàng trong kỷ nguyên mới rất rõ ràng: Công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng chỉ là công cụ, nội dung khoa học mới là giá trị cốt lõi. Tại Bảo tàng việc ứng dụng thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) đã bước đầu gặt hái thành công.

Tại một số không gian trưng bày đã thực hiện, công nghệ số không chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà trở thành một phần của nội dung, vừa tăng tính hấp dẫn về mặt thị giác mà còn giúp tương tác, nâng cao trải nghiệm cho khách tham quan; góp phần tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với công chúng trẻ.

Song song đó, các trưng bày ảo trên nền tảng Web như triển lãm “Italian Routes-Phong cảnh núi ở Ý, leo núi, biến đổi khí hậu” và “Phong cảnh Việt Nam-Đa dạng sinh thái, biến đổi khí hậu, khám phá mới ” do Đại sứ quán Ý tại Hà Nội phối hợp với Bảo tàng đồng tổ chức trưng bày đã minh chứng cho khả năng xóa bỏ rào cản địa lý, mang lại trải nghiệm đa giác quan cho công chúng toàn cầu thông qua kỹ thuật 3D hiện đại ứng dụng trong trưng bày.

Bên cạnh đó, công tác giáo dục di sản văn hóa có những bước đột phá mạnh mẽ, như việc triển khai hệ thống thuyết minh tự động, giúp hiện đại hóa phương thức truyền tải tri thức và cho phép khách tham quan chủ động khám phá văn hóa các dân tộc theo sở thích.

Việc ứng dụng mã QR cùng các công nghệ tương tác hiện đại đã khiến mỗi buổi tham quan văn hóa thành một hành trình "nhập vai" đầy thú vị vào đời sống. Từ đó, tạo sức hút đặc biệt trong quá trình tiếp cận và bảo tồn các giá trị di sản, nhất là đối với thế hệ trẻ khi được hòa vào không gian học tập chủ động, nơi di sản được tiếp cận bằng các giác quan, giúp giới trẻ chuyển trạng thái từ cảm nhận giá trị sang hành động trân trọng văn hóa.

Các ứng dụng công nghệ được triển khai tại phòng Khám phá trẻ em có sức hút rất lớn đối với công chúng nhỏ tuổi.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hải Đăng, Giám đốc Bảo tàng, trong bối cảnh mới với những yêu cầu rất cao, góp phần hiện thực hóa mục tiêu Nghị quyết số 80 NQ/TW đặt ra, đó là phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng. Các giá trị văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội…, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới, sự phát triển của Bảo tàng trong hệ sinh thái của Viện Hàn lâm tiếp tục khẳng định mạnh mẽ: Nghiên cứu khoa học không phải là những hồ sơ lưu kho, mà phải là những giá trị được "sống" và phục vụ nhân dân.

Với nền tảng tri thức hàn lâm vững chắc cùng tư duy đổi mới sáng tạo, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam luôn nỗ lực giữ vững vai trò là "địa chỉ đỏ" về khoa học và văn hóa, minh chứng sống động cho mối quan hệ không tách rời giữa tri thức hàn lâm với sức mạnh công nghệ, để hoàn thành sứ mệnh lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc, góp phần tạo nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước như Nghị quyết đã đề ra.

TIỂU PHƯƠNG

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ