🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Số hóa di sản - 'đánh thức' giá trị trong không gian số

4 giờ trước
Hà Nội là địa phương hội tụ hệ thống di sản phong phú, đa dạng, từ di tích lịch sử, kiến trúc đến các loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo tồn mà còn phải đưa di sản 'sống' trong đời sống đương đại.

Đây cũng là nội dung trọng tâm được thảo luận trong Chương trình thời sự với chủ đề “Số hóa di sản - đánh thức giá trị trong không gian số”, diễn ra từ 18h30-20h ngày 5-4, do Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức.

Hai khách mời tham gia chương trình thời sự tối 5-4. Ảnh: Thanh Hải

Tham gia chương trình có các khách mời: Bà Phạm Thị Lan Anh, Trưởng phòng Quản lý di sản (Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội) và Giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, Giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã xác định rõ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa là xu hướng tất yếu, đồng thời là động lực quan trọng để phát huy giá trị di sản. Việc tiếp cận tài nguyên văn hóa theo hướng toàn diện, hiện đại, gắn bảo tồn với phát triển bền vững sẽ góp phần biến di sản thành tài sản, đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội.

Vở diễn “Kinh Đô Thăng Long” bằng công nghệ 3D Mapping kết hợp trải nghiệm không gian số tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: H.T

Chương trình thời sự với chủ đề “Số hóa di sản - đánh thức giá trị trong không gian số” sẽ phân tích sâu vai trò của công nghệ trong lưu giữ, phục dựng và lan tỏa giá trị di sản. Không chỉ dừng ở bảo tồn, số hóa còn mở ra khả năng khai thác sáng tạo thông qua các sản phẩm số, du lịch thông minh và các hình thức trải nghiệm mới. Qua đó, di sản từng bước được chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế, góp phần nâng cao giá trị văn hóa và vị thế của Thủ đô trong tiến trình phát triển.

Số hóa di sản cần được nhìn nhận là một quá trình toàn diện

Bà Phạm Thị Lan Anh, Trưởng phòng Quản lý Di sản (Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội) cho rằng, số hóa di sản hiện vẫn là một khái niệm khá mới và dễ bị hiểu theo cách giản đơn. Nhiều người thường đồng nhất số hóa di sản với việc chụp ảnh tư liệu, hay chuyển đổi hồ sơ sang định dạng số trên các phương tiện công nghệ thông tin... Dù đây là những bước cần thiết, nhưng chưa phản ánh đầy đủ bản chất của quá trình số hóa.

Ở góc nhìn toàn diện hơn, số hóa di sản là một quy trình đồng bộ, bắt đầu từ kiểm kê, thu thập thông tin, chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu, đến việc ứng dụng các công nghệ số. Mục tiêu không dừng lại ở lưu trữ, mà hướng tới việc giúp di sản tiếp cận công chúng một cách hiệu quả hơn, tạo điều kiện để công chúng hiểu sâu hơn về giá trị của di sản.

Bà Phạm Thị Lan Anh, Trưởng phòng quản lý di sản (Sở Văn hóa thể thao Hà Nội) trao đổi tại Chương trình thời sự ngày 5-4. Ảnh Thanh Hải

Bà Phạm Thị Lan Anh nhấn mạnh, cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó, di sản được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên văn hóa có khả năng phát huy giá trị trong bối cảnh mới. Khi được số hóa bài bản, di sản có thể tham gia vào nhiều lĩnh vực, góp phần thúc đẩy các ngành liên quan.

Từ góc độ quản lý nhà nước, số hóa còn giúp nâng cao hiệu quả quản lý theo hướng khoa học, tạo nền tảng để kết nối liên ngành và khai thác giá trị di sản một cách bền vững. Theo bà Phạm Thị Lan Anh, có thể hiểu ngắn gọn rằng, số hóa không chỉ nhằm lưu giữ, mà còn tạo ra hình thức thể hiện mới, nội dung mới và phương thức truyền tải mới, giúp di sản hiện diện sinh động hơn trong đời sống đương đại.

Số hóa gắn với bảo tồn, phát huy giá trị di sản

Từ thực tế triển khai, bà Phạm Thị Lan Anh cho biết, số hóa di sản văn hóa hiện nay đang được thể hiện rõ trên hai phương diện: Bảo tồn và phát huy giá trị.

Ở phương diện bảo tồn, số hóa giúp lưu giữ lại thông tin về di sản một cách chuẩn xác, đầy đủ và bài bản. Đặc biệt, đối với những di sản đang có nguy cơ bị mai một, như di sản phi vật thể, hoặc các di sản chịu tác động của biến đổi khí hậu, môi trường và thiên tai, số hóa là một trong những giải pháp phù hợp, cấp thiết và cần được thực hiện trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, số hóa di sản tạo nền tảng để có thể phát huy giá trị, nhất là trong các ngành mới. Số hóa di sản là đòn bẩy cho truyền thông, thiết kế và góp phần phát triển các ngành trong nhóm công nghiệp văn hóa. Di sản có thể được ứng dụng trong điện ảnh, trò chơi điện tử cũng như trong các ngành sáng tạo khác.

Số hóa đưa di sản trở thành nguồn lực kinh tế

Chia sẻ về vai trò của số hóa trong lĩnh vực di sản, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, số hóa không nên chỉ dừng lại ở mục tiêu lưu trữ, mà cần hướng tới khai thác và phát huy giá trị. Theo giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, trong bối cảnh hiện nay, di sản hoàn toàn có thể trở thành một nguồn lực kinh tế quan trọng nếu được đặt trong môi trường số.

Từ kinh nghiệm thực tế khi tiếp cận các không gian nghệ thuật và bảo tàng tại nhiều quốc gia, đặc biệt ở châu Âu và các quốc gia ở châu Á như Hàn Quốc và Trung Quốc, ông Nguyễn Thế Sơn nhận thấy việc ứng dụng công nghệ số đã mang lại những kết quả rõ rệt. Đơn cử như tại Hàn Quốc, nghệ thuật video art được phát triển mạnh mẽ và trở thành niềm tự hào của giới sáng tạo. Các hình thức nghệ thuật đa phương tiện, nghệ thuật số được tích hợp rộng rãi trong bảo tàng và không gian đô thị, góp phần tạo nên những trải nghiệm mới mẻ cho công chúng.

Giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) chia sẻ về việc khai thác di sản trong môi trường số. Ảnh: Thanh Hải

Từ những bài học đó, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn cho rằng, Việt Nam dù đi sau nhưng có lợi thế khi sở hữu một nền tảng di sản phong phú, đa dạng. Nếu biết tận dụng công nghệ số, đây sẽ là hướng đi giàu tiềm năng để vừa bảo tồn, vừa khai thác sâu hơn giá trị của di sản. Đặc biệt, trong các ngành công nghiệp văn hóa như nghệ thuật và thiết kế, việc ứng dụng công nghệ số có thể tạo ra những hiệu quả lớn, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế.

"Việc đưa di sản vào môi trường số không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận, mà còn giúp tái tạo giá trị, đưa di sản trở thành một phần năng động trong đời sống đương đại", giám tuyển Nguyễn Thế Sơn nhấn mạnh.

Chương trình "Bước chân di sản" kết hợp trình chiếu 3D Mapping được tổ chức tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: Ngọc Tú

Kể câu chuyện di sản chạm đến trái tim, cảm xúc của công chúng

Có ý kiến cho rằng nhiều sản phẩm số hóa di sản hiện nay vẫn chưa thu hút được công chúng. Về vấn đề này, bà Phạm Thị Lan Anh chia sẻ: Công nghệ rất quan trọng, không chỉ đối với di sản, mà còn đối với nhiều ngành khác, nhưng không phải là yếu tố quyết định cuối cùng. Điều quyết định là cách kể câu chuyện di sản như thế nào để chạm đến trái tim, cảm xúc của công chúng.

Hiện nay, chúng ta đã có nhiều sản phẩm số hóa và nền tảng công nghệ đang ở mức khá tốt, không thua kém thế giới. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc sử dụng công nghệ, sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại để cung cấp thông tin một cách rời rạc, đơn lẻ thì sẽ khó tạo sức hấp dẫn.

Theo bà Phạm Thị Lan Anh, cần tạo ra sự tương tác và trải nghiệm cho công chúng; cách kể chuyện phải sinh động, gần gũi, để công chúng không chỉ xem, mà thực sự bước vào câu chuyện về di sản. Khi đó, công nghệ sẽ là “cánh cửa” đưa di sản đến gần hơn với công chúng, còn nội dung và cách kể chuyện mới là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn.

Du khách trải nghiệm tour du lịch đêm "Tinh hoa đạo học" tại di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Khánh Huy

Ở góc nhìn của một người làm nghệ thuật và giám tuyển, ông Nguyễn Thế Sơn đồng tình cho rằng, để di sản được phát huy, yếu tố quan trọng là khả năng chuyển hóa nội dung. Một sản phẩm số có hấp dẫn hay không vừa phụ thuộc vào chiều sâu nội dung, vừa đòi hỏi quá trình nghiên cứu nghiêm túc. Và chính giá trị nghiên cứu sẽ làm cho nội dung sâu sắc hơn, từ đó trở thành chất liệu tốt cho các nghệ sĩ và người sáng tạo.

Ông Nguyễn Thế Sơn cũng cho rằng, khi kết hợp với công nghệ - vốn đang biến đổi không ngừng, đặc biệt với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo trong những năm gần đây, cách kể chuyện di sản cũng liên tục mở ra những hướng mới. Vì vậy, cần quan tâm đồng thời cả hai phía: Vừa đào sâu, chuẩn hóa dữ liệu di sản để bảo đảm tính chính xác, vừa ứng dụng các phương thức kể chuyện hiện đại, không giới hạn.

Trong bối cảnh công nghệ luôn đổi mới, người làm sáng tạo cần liên tục học hỏi. Khi công nghệ hay AI có thể hỗ trợ nhiều khâu, yếu tố sáng tạo mang bản sắc riêng của nghệ sĩ và nhà thiết kế càng trở nên quan trọng. Chính từ đó, dữ liệu di sản mới được chuyển hóa thành những sản phẩm, tác phẩm có giá trị cao hơn.

Ưu tiên số hóa di sản theo mức độ cấp thiết và khả năng phát huy giá trị

Chia sẻ về định hướng số hóa di sản trong bối cảnh Hà Nội đang sở hữu khối lượng di sản lớn bậc nhất cả nước (gần 10.000 di sản các loại), bà Phạm Thị Lan Anh cho biết, số hóa di sản đang là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Văn hóa Thủ đô.

Mục tiêu lâu dài của Hà Nội là tiến tới số hóa 100% di sản. Song, với khối lượng lớn như hiện nay, việc triển khai không thể hoàn thành trong thời gian ngắn, mà cần có lộ trình và thứ tự ưu tiên rõ ràng.

Trưởng phòng Quản lý di sản (Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội) Phạm Thị Lan Anh chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Thanh Hải

Theo bà Phạm Thị Lan Anh, trước hết, cần tập trung vào nhóm di sản đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, mai một hoặc thất lạc dữ liệu.

Thứ nhất, cần quan tâm đặc biệt các di sản phi vật thể do các nghệ nhân nắm giữ, bởi phần lớn nghệ nhân đều đã cao tuổi, trong khi việc truyền dạy những tri thức, kỹ năng tích lũy qua nhiều thế hệ là quá trình lâu dài, có thể kéo dài hàng chục năm; nếu không tư liệu hóa, lưu giữ kịp thời thì có nguy cơ mất mát không thể phục hồi.

Thứ hai là nhóm di sản tiêu biểu, có giá trị đặc sắc, phản ánh chiều sâu lịch sử và văn hiến của Thăng Long - Hà Nội, như khu di tích Hoàng thành Thăng Long, hay khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đây là những di sản mang tính biểu tượng, cần được ưu tiên số hóa để vừa bảo tồn, vừa lan tỏa giá trị tới đông đảo công chúng trong và ngoài nước.

Du khách trải nghiệm ứng dụng công nghệ số kết hợp trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Hoàng Quyên

Thứ ba là nhóm di sản có tiềm năng phát triển thành các sản phẩm văn hóa mới thông qua ứng dụng công nghệ và sáng tạo. Với sự tham gia của đội ngũ nghệ sĩ, nhà thiết kế và lực lượng sáng tạo đông đảo, việc số hóa có thể mở ra khả năng xây dựng các sản phẩm trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa… Qua đó, di sản không chỉ được lưu giữ, mà còn trở thành nguồn lực cho các ngành công nghiệp văn hóa, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

"Quá trình số hóa di sản là một hành trình lâu dài, không thể hoàn thành trong một sớm một chiều, bởi di sản luôn vận động, tiếp tục tích hợp những giá trị mới của đời sống. Vì vậy, việc xác định thứ tự ưu tiên theo từng nhóm là cần thiết, nhằm bảo đảm triển khai hiệu quả, đồng thời, từng bước phát huy tốt nhất giá trị của di sản trong bối cảnh hiện nay", bà Phạm Thị Lan Anh nhấn mạnh.

Cộng đồng sáng tạo trẻ mang đến cách tiếp cận mới cho di sản

Di sản ngày nay không chỉ được gìn giữ theo lối truyền thống, mà đang vận động trong một không gian mới, nơi công nghệ và sáng tạo cùng góp phần kiến tạo lại giá trị. Thay vì chỉ bảo tồn nguyên trạng, di sản được tái hiện, làm mới để phù hợp với nhịp sống và cách tiếp nhận của xã hội đương đại.

Theo bà Phạm Thị Lan Anh, để các sáng kiến sáng tạo được hỗ trợ và lan tỏa, cần có cơ chế khuyến khích rõ ràng; đồng thời, tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý với cộng đồng sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ và các tổ chức văn hóa.

Thực tiễn cho thấy, qua 4 mùa Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội, vai trò của cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ, ngày càng được khẳng định trong quá trình số hóa, sáng tạo và phát huy giá trị di sản. Bằng những cách tiếp cận mới, ứng dụng công nghệ hiện đại, các nhóm sáng tạo đã kể lại câu chuyện di sản bằng ngôn ngữ gần gũi, sinh động hơn, góp phần đưa di sản đến gần công chúng, nhất là thế hệ trẻ.

Không gian sáng tạo tại Nhà máy xe lửa Gia Lâm. Ảnh: Mộc Miên

Sự tham gia tích cực của cộng đồng sáng tạo không chỉ tạo thêm sức sống mới cho di sản, mà còn góp phần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, thúc đẩy quá trình số hóa và khai thác giá trị di sản một cách hiệu quả, bền vững.

“Cơ quan quản lý nhà nước, bên cạnh sự đồng hành, hỗ trợ về thủ tục hành chính và kết nối, cần tạo không gian để các nhóm sáng tạo được thực hành, thử nghiệm; đồng thời, từng bước xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp, để các bạn trẻ - lực lượng giàu năng lượng sáng tạo, tri thức và tài năng - được đồng hành, hỗ trợ tốt hơn, từ chính sách đến điều kiện hoạt động trong đời sống”, bà Phạm Thị Lan Anh nhấn mạnh.

Cần đề cao vai trò sáng tạo của nghệ sĩ

Từ thực tiễn triển khai các dự án sáng tạo, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn thẳng thắn chia sẻ về những yếu tố then chốt quyết định việc một sản phẩm số hóa di sản có thể “sống” trong đời sống đương đại, thay vì chỉ dừng lại ở không gian trưng bày.

Theo ông, việc ứng dụng công nghệ số trong trưng bày cần được định hướng theo hai hướng chính.

Thứ nhất là xây dựng các không gian trưng bày chuyên nghiệp, nơi công nghệ số được tích hợp ngày càng sâu rộng, tạo nên trải nghiệm mới cho công chúng.

Thứ hai là coi chính những thiếu hụt, mất mát của dữ liệu di sản như một nguồn cảm hứng sáng tạo, từ đó hình thành các hình thức kể chuyện mới.

Ông Nguyễn Thế Sơn, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội trao đổi tại chương trình. Ảnh: Thanh Hải

Ông Nguyễn Thế Sơn nhấn mạnh, công nghệ số có thể “kể lại” những câu chuyện di sản vốn chưa từng được truyền tải trước đây. Chẳng hạn, những chi tiết mỹ thuật như đôi phượng vẽ trên vòm trần của công trình di sản 19 Lê Thánh Tông (Hà Nội) có thể được “làm sống lại” bằng công nghệ, hay một bức tranh tường với hàng trăm nhân vật có thể trở nên sinh động qua màn hình 3D cỡ lớn... Những cách tiếp cận này giúp di sản trở nên trực quan, hấp dẫn hơn, đồng thời, tạo ra ngôn ngữ biểu đạt gần gũi với giới trẻ.

Tuy nhiên, để di sản có đời sống lâu dài trong bối cảnh hiện đại, điều quan trọng không chỉ là công nghệ, mà còn là vai trò sáng tạo của nghệ sĩ - những người phải liên tục đổi mới cách kể chuyện, để di sản thực sự “sống” và tiếp tục lan tỏa giá trị theo thời gian.

Cần tập trung nhiều hơn vào yếu tố liên ngành trong nghệ thuật

Trước ý kiến cho rằng nếu quá chú trọng yếu tố công nghệ, di sản có thể bị “trình diễn hóa”, thậm chí đánh mất chiều sâu văn hóa, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn nhận định đây là nguy cơ có thật, nếu việc số hóa chỉ dừng lại ở hiệu ứng thị giác.

Theo ông, để tránh xu hướng “trình diễn hóa”, hay biến di sản thành sản phẩm thuần túy nghe - nhìn, yếu tố cốt lõi vẫn phải là nội dung, câu chuyện và nền tảng nghiên cứu. Công nghệ chỉ nên đóng vai trò là phương tiện truyền tải, không thể thay thế chiều sâu văn hóa vốn có của di sản.

Chương trình nghệ thuật “Đống Đa - Sử vàng lưu danh - Tương lai vững bước” được thể hiện bằng hình thức bán thực cảnh kết hợp công nghệ 3D mapping hiện đại tại Lễ hội gò Đống Đa. Ảnh: Viết Thành

Ông nhấn mạnh, bài toán đặt ra không nằm ở việc sử dụng nhiều hay ít công nghệ, mà ở cách tiếp cận mang tính nghệ thuật liên ngành. Nếu chỉ khai thác riêng lẻ từng loại hình như hội họa, điêu khắc…, sẽ khó tạo ra sự mới lạ và sức hấp dẫn bền vững. Ngược lại, việc kết hợp đa dạng các lĩnh vực nghệ thuật trong một chỉnh thể thống nhất sẽ mở ra khả năng sáng tạo mới, giúp di sản được kể lại một cách sinh động mà vẫn giữ được giá trị cốt lõi.

Từ đó, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn cho rằng, cần tập trung nhiều hơn vào yếu tố liên ngành trong nghệ thuật, coi đây là lời giải hiệu quả để vừa phát huy vai trò của công nghệ, vừa bảo đảm chiều sâu văn hóa, giúp di sản không chỉ “đẹp mắt”, mà còn “đọng lại” trong nhận thức của công chúng.

Còn bà Phạm Thị Lan Anh cho rằng cần có cách tiếp cận liên ngành để hài hòa giữa bảo tồn và đổi mới. Bà phân tích: Công nghệ phải phục vụ di sản, nhưng không được che lấp giá trị cốt lõi của di sản. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để cân bằng giữa tính xác thực và phương thức tiếp cận mới. Ví dụ, với tư liệu như 82 bia đá triều Lê - Mạc tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, việc ứng dụng công nghệ trình chiếu, số hóa có thể giúp công chúng tiếp cận thuận lợi hơn, nhưng không thể thay thế trải nghiệm trực tiếp với hiện vật gốc.

Trong quá trình số hóa, theo bà Lan Anh, chúng ta cần tiết chế việc “trình diễn hóa” quá mức. Công nghệ nên đóng vai trò hỗ trợ, dẫn dắt, khơi gợi, để từ đó người xem có nhu cầu tìm đến, chiêm nghiệm giá trị nguyên bản của di sản. Nếu làm được điều này, việc ứng dụng công nghệ không những không làm mất đi chiều sâu văn hóa, mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản một cách hiệu quả hơn.

Các khách mời trao đổi tại chương trình. Ảnh: Thanh Hải

Bảo tàng Hà Nội - "Luồng gió mới" từ công nghệ trưng bày hiện đại

Chia sẻ tại điểm cầu Bảo tàng Hà Nội về những công nghệ nổi bật nhất được áp dụng tại Bảo tàng Hà Nội hiện nay, ông Đặng Minh Vệ, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội cho biết, sau nhiều năm tâm huyết xây dựng nội dung và sưu tầm hiện vật, Bảo tàng Hà Nội đã chính thức "thay áo mới" bằng hệ thống trưng bày rất ấn tượng. Đến với bảo tàng, công chúng sẽ thấy nơi đây không còn là những tủ kính khô khan, mà là sự kết hợp tinh tế giữa di sản và công nghệ đỉnh cao, mang lại trải nghiệm đa giác quan cho công chúng.

Theo ông Đặng Minh Vệ, điểm chạm đầu tiên đầy ấn tượng đối với du khách chính là công nghệ in ấn kỹ thuật số. Không chỉ dừng lại ở các bản in thông thường, Bảo tàng Hà Nội đã ứng dụng kỹ thuật in sắc nét trên chất liệu gỗ nhựa cao cấp. Đây là lựa chọn thông minh, bởi chất liệu này có tuổi thọ bền vững theo thời gian, kết hợp cùng hệ thống phim màu tự dính giúp các chủ đề trưng bày trở nên sống động, rực rỡ và chuyên nghiệp hơn.

Ông Đặng Minh Vệ, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội, trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội tại chương trình.

Để kể những câu chuyện lịch sử một cách hấp dẫn, Bảo tàng Hà Nội đã triển khai công nghệ trình chiếu với quy mô cực lớn, trong đó, hệ thống 98 video được trình chiếu liên tục trên các màn hình rải khắp các khu vực. Những màn hình trình chiếu kích thước lớn tại các vị trí trung tâm tạo nên hiệu ứng thị giác mạnh mẽ, khơi gợi cảm xúc sâu sắc cho khách tham quan ngay khi vừa bước chân vào các không gian chuyên đề.

Về trải nghiệm tương tác, chạm vào di sản, điểm nhấn hiện đại nhất chính là hệ thống 24 màn hình tương tác được bố trí khoa học theo từng chủ đề và tiểu chủ đề. Đây không chỉ là nơi tra cứu thông tin, mà còn là cầu nối "ngôn ngữ hai chiều" giữa bảo tàng và khách tham quan. Thay vì chỉ nhìn hiện vật trong tủ kính, hay đọc chú thích cố định trên vách (die-back), du khách có thể chủ động khám phá tầng sâu của dữ liệu thông qua những cú chạm.

Minh chứng điển hình, tại khu vực giới thiệu về làng nghề gốm Bát Tràng, thay vì chỉ thấy những bình gốm tĩnh lặng, du khách có thể tương tác với màn hình để tìm hiểu về lịch sử làng nghề gắn liền với sự kiện vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long năm 1010. Đặc biệt, công nghệ đã giúp "số hóa" những quy trình phức tạp, giúp du khách tận mắt tìm hiểu 6 bước quy trình tạo tác gốm được biên tập công phu, sinh động.

Bên cạnh đó, kho dữ liệu của Bảo tàng còn mở ra cánh cửa kết nối rộng lớn với các tư liệu hình ảnh quý hiếm được sưu tầm từ các cơ quan lưu trữ trong nước và quốc tế. Tất cả đều được tích hợp mượt mà vào hệ thống màn hình cảm ứng, giúp những kiến thức lịch sử khô khan trở nên đầy sức hút và mang tính thời đại.

Việc chính thức khai trương hệ thống trưng bày thường xuyên từ ngày 3-2-2026 là một bước tiến quan trọng của Bảo tàng Hà Nội. Với sự hỗ trợ của công nghệ, nơi đây không chỉ lưu giữ quá khứ, mà còn là một không gian văn hóa sống động, luôn cập nhật và sẵn sàng chào đón công chúng đến để tương tác, học hỏi và trải nghiệm.

Bảo tàng Hà Nội: Đánh thức di sản bằng công nghệ và cảm xúc

Theo ông Đặng Minh Vệ, để thu hút và giữ chân du khách khi đến với Bảo tàng Hà Nội, đơn vị quản lý đã triển khai những chiến lược đổi mới mang tính đột phá, kết hợp hài hòa giữa giá trị truyền thống và hơi thở hiện đại.

Điểm khác biệt cốt lõi trong tư duy thiết kế trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội chính là sự khước từ các hiện vật phục chế, hay làm lại. Bảo tàng cam kết sử dụng 100% hiện vật gốc, bởi chỉ có những di sản thực thụ mới đủ sức khơi gợi cảm xúc chân thực và tạo sự kết nối sâu sắc với người xem.

Tuy nhiên, theo ông Đặng Minh Vệ, nếu chỉ trưng bày hiện vật tĩnh, không gian sẽ thiếu đi sự sống động. Bảo tàng đã khéo léo kết nối các câu chuyện lịch sử với nhịp sống đương đại. Đơn cử, bên cạnh những hiện vật gốm Bát Tràng từ thế kỷ XIX, bảo tàng còn đưa vào các tác phẩm gốm hiện đại. Cách tiếp cận này giúp công chúng cảm nhận được "hơi thở" của làng nghề vẫn đang không ngừng chuyển mình, thích nghi với nhịp sống mới của Thủ đô và đất nước.

Du khách trải nghiệm ứng dụng công nghệ số kết hợp trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Hoàng Quyên

Ông Đặng Minh Vệ cũng nhấn mạnh, việc ứng dụng công nghệ không chỉ là xu hướng, mà còn là công cụ đắc lực để truyền tải nội dung một cách đa giác quan, giúp khách tham quan tiếp cận hiện vật ở chiều sâu mới. Hệ thống cho phép cá nhân hóa hành trình tham quan, phù hợp cả với du khách chỉ có 15 phút, hoặc nhiều giờ trải nghiệm, bảo đảm bảo tàng luôn mới mẻ trong mắt công chúng.

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập, bảo tàng xác định nội dung, giải pháp, công nghệ là "kiềng ba chân" quyết định sự hấp dẫn, là phương thức quảng bá hữu hiệu. Khi du khách quốc tế được trải nghiệm di sản qua các nền tảng số, họ sẽ có thêm động lực để trực tiếp đến tham quan và trải nghiệm thực tế tại Hà Nội.

“Dù công nghệ đóng vai trò quan trọng, Bảo tàng Hà Nội vẫn giữ vững nguyên tắc: Hiện vật gốc là ưu tiên số một. Công nghệ được sử dụng như một phương tiện hỗ trợ, tạo nên sự giao thoa hoàn hảo để di sản không chỉ nằm trong tủ kính, mà thực sự sống lại trong lòng công chúng”, ông Đặng Minh Vệ nhấn mạnh.

Bảo tàng Hà Nội: Đẩy mạnh số hóa và trải nghiệm công nghệ từ tư duy đổi mới

Bằng việc đẩy mạnh số hóa hệ thống hiện vật và triển khai các dự án đột phá như trợ lý ảo AI, không gian trải nghiệm thực tế ảo cùng trò chơi lịch sử, Bảo tàng Hà Nội đang tạo ra những bước chuyển mình mạnh mẽ để đánh thức giá trị di sản trong không gian số. Không chỉ là nơi lưu giữ và trưng bày hiện vật, bảo tàng đang từng bước ứng dụng công nghệ để đổi mới cách tiếp cận, hướng tới việc tạo ra những trải nghiệm trực quan, sinh động hơn cho công chúng.

Để các ứng dụng số thực sự thu hút và giữ chân người xem, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội Đặng Minh Vệ cho biết, ngay từ những ngày đầu xây dựng nội dung và khai trương trưng bày, Bảo tàng Hà Nội đã xác định việc ứng dụng công nghệ là kế hoạch dài hơi và trọng tâm. Để hệ thống trưng bày truyền tải thông tin đến công chúng một cách hiệu quả nhất, Bảo tàng đang tập trung triển khai một loạt giải pháp công nghệ hiện đại và không gian trải nghiệm sáng tạo.

Một trong những dự án tâm huyết mà Bảo tàng sẽ ra mắt sớm là Trợ lý ảo ứng dụng công nghệ AI. Trợ lý ảo sẽ đóng vai trò là một người dẫn đường thông minh, sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc và hướng dẫn khách tham quan tìm hiểu sâu hơn về những nội dung họ quan tâm. Với lượng khách tham quan có những ngày lên tới hàng nghìn người, hướng dẫn viên không thể đáp ứng hết nhu cầu thuyết minh; do đó, Bảo tàng Hà Nội triển khai hệ thống thuyết minh tự động thông qua mã QR và điện thoại thông minh, giúp du khách hoàn toàn chủ động trong hành trình khám phá của mình.

Ứng dụng công nghệ số kết hợp trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Hoàng Quyên

Hiện nay, Bảo tàng Hà Nội đang lưu giữ hơn 73.000 tài liệu và hiện vật. Tuy nhiên, không gian trưng bày thực tế hơn 8.000m2 không thể truyền tải hết số tài liệu và hiện vật này. Do đó, Bảo tàng Hà Nội sẽ phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện số hóa toàn bộ hệ thống hiện vật, xây dựng cơ sở dữ liệu số. Đồng thời, nâng cấp các màn hình tra cứu tích hợp AI, cho phép công chúng truy cập và tìm hiểu chi tiết về những hiện vật chưa có điều kiện được trưng bày trực tiếp tại các tủ trưng bày.

Ông Đặng Minh Vệ cũng cho biết: “Bảo tàng sẽ ra mắt 4 không gian giáo dục trải nghiệm hoàn toàn mới, được bố trí tại tầng 2, tầng 3 và tầng 4 theo từng chủ đề trưng bày tương ứng. Tại đây, chúng tôi áp dụng công nghệ để khách tham quan không chỉ là người xem, mà còn được "đắm mình" vào lịch sử, thậm chí có thể hóa thân thành các nhân vật lịch sử để cảm nhận chân thực nhất về văn hóa và quá khứ của Thăng Long - Hà Nội".

Đồng thời, Bảo tàng Hà Nội cũng đang phối hợp chặt chẽ với Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội để đưa "Tiết học AI" vào không gian bảo tàng. Mô hình này giúp học sinh, sinh viên vừa học tập lý thuyết, vừa được tận mắt chứng kiến các hiện vật thật được tích hợp trong phần mềm AI.

Đặc biệt, vào dịp lễ 30-4 và 1-5 tới đây, Bảo tàng Hà Nội dự kiến ra mắt ứng dụng trò chơi mang tên "Nấc thang lịch sử". Đây là một nền tảng kiến thức thú vị, giúp giới trẻ tiếp cận lịch sử Thủ đô và đất nước một cách tự nhiên, sinh động và đầy cuốn hút.

Hướng tới hệ sinh thái số, đưa di sản trở thành nguồn lực phát triển

Trở lại với điểm cầu tại trường quay, bà Phạm Thị Lan Anh, Trưởng phòng Quản lý di sản (Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội) cho biết, nhiều ý kiến chuyên gia đã đề cập khả năng hình thành các sản phẩm văn hóa mới trên nền tảng di sản, trong đó, di sản là chất liệu và công nghệ là phương tiện phát triển.

Bà Lan Anh kỳ vọng, thời gian tới, việc số hóa, sử dụng công nghệ sẽ không dừng ở các dự án riêng lẻ, hay những lễ hội đơn lẻ, mà từng bước hình thành một hệ sinh thái số, bảo đảm việc số hóa di sản được triển khai đồng bộ. Quan trọng hơn, số hóa không chỉ phục vụ bảo tồn, mà phải thực sự trở thành nguồn lực cho sáng tạo và phát triển.

Bà Phạm Thị Lan Anh, Trưởng phòng Quản lý di sản (Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội) trao đổi tại chương trình.

Bà Phạm Thị Lan Anh nhấn mạnh, dù chặng đường 5 đến 10 năm tới không phải là ngắn, nhưng với những nền tảng đang được triển khai cùng sự hỗ trợ của khoa học công nghệ, có cơ sở để tin tưởng vào những chuyển biến tích cực trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Số hóa di sản không chỉ là xu hướng công nghệ, mà đã trở thành hướng đi tất yếu, kéo theo sự thay đổi về tư duy: Từ gìn giữ sang khai thác, từ lưu trữ sang lan tỏa và tạo ra giá trị mới. Tinh thần này cũng phù hợp với định hướng phát triển văn hóa, trong đó nhấn mạnh vai trò của công nghệ và chuyển đổi số như động lực quan trọng để phát huy giá trị di sản, coi di sản không chỉ là ký ức của quá khứ, mà còn là nguồn tài nguyên cho hiện tại và tương lai, có thể tham gia trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội.

Tại Hà Nội, định hướng này đang được cụ thể hóa thông qua các chính sách phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, nhấn mạnh việc khai thác di sản như một nguồn lực nội sinh gắn với sáng tạo, du lịch và các ngành công nghiệp văn hóa.

Theo bà Phạm Thị Lan Anh, để đạt được mục tiêu này, cần một quá trình nhất định với sự đồng bộ về cơ chế, chính sách, nguồn lực đầu tư, đồng thời huy động sự tham gia của các nhà sáng tạo, doanh nghiệp và cộng đồng. Khi công nghệ, văn hóa và thị trường được kết nối hiệu quả, di sản sẽ được đánh thức, trở thành nguồn lực phát triển bền vững, góp phần nâng cao vị thế Thủ đô Hà Nội trong tiến trình hội nhập.

Đồng bộ các nhóm giải pháp nền tảng để thúc đẩy số hóa di sản

Bà Phạm Thị Lan Anh cho rằng, các nhóm giải pháp nền tảng nhằm thúc đẩy số hóa di sản theo hướng đồng bộ, hiệu quả đã được nhận diện qua quá trình thảo luận và thực tiễn triển khai thời gian qua. Trong đó, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm và phải thực hiện đồng thời, nhất quán.

Trước hết là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về di sản. Hệ thống này cần được thiết kế theo tiêu chuẩn chung, bảo đảm khả năng liên thông giữa các đơn vị, đồng thời, đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng lâu dài.

Đặc sắc tour đêm "Ngọc Sơn - Đêm huyền bí". Ảnh: Viết Thành

Thứ hai là đầu tư hạ tầng công nghệ gắn với phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt, nguồn nhân lực phải có sự kết hợp giữa hiểu biết về di sản và năng lực công nghệ, qua đó nâng cao chất lượng số hóa, góp phần truyền tải giá trị di sản với chiều sâu văn hóa.

Thứ ba là hoàn thiện cơ chế phối hợp nhằm huy động sự tham gia của các sở, ngành, địa phương, đặc biệt là doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo. Nếu không có cơ chế phối hợp hiệu quả, sẽ khó phát huy chất lượng các sản phẩm số hóa cũng như nhân rộng các mô hình, cách làm tốt.

Bà Phạm Thị Lan Anh nhấn mạnh thêm, để các giải pháp đi vào thực tiễn hiệu quả, cần triển khai đồng thời bốn nội dung: Xây dựng cơ sở dữ liệu, đầu tư công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan. Đây là những yếu tố nền tảng, có tính liên kết chặt chẽ, quyết định hiệu quả của quá trình số hóa di sản trên địa bàn thành phố trong thời gian tới.

Nhân lực công nghệ mở đường cho “cú hích” số hóa di sản Thủ đô

Hình dung hệ sinh thái số hóa di sản tại Hà Nội trong 5 - 10 năm tới, ông Nguyễn Thế Sơn cho rằng: Số hóa di sản sẽ bùng nổ khi nguồn nhân lực phục vụ cho ngành Di sản văn hóa, khai thác di sản số hóa rất nhiều.

Các chuyên gia dự báo, số hóa di sản sẽ bùng nổ khi nguồn nhân lực phục vụ cho lĩnh vực này sắp tới sẽ rất nhiều. Ảnh: Thanh Hải

Hiện nay, có khá nhiều chương trình đào tạo của các trường đại học, đặc biệt là các trường nghệ thuật, đã ứng dụng công nghệ trong đào tạo, giúp sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể sử dụng ngay các công nghệ mới.

Thời gian tới, những không gian như Hoàng Thành, hầm tòa Nhà Quốc hội, nơi có hai bảo tàng, sẽ mở cửa đón khách tham quan. Những câu chuyện về nghệ thuật như Lễ hội thiết kế sáng tạo sẽ thúc đẩy hệ sinh thái công nghiệp văn hóa của Thủ đô phát triển.

Nhóm phóng viên

TIN LIÊN QUAN




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ