🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Cơ sở dữ liệu vùng trồng: Chìa khóa cho truy xuất nguồn gốc nông sản

3 giờ trước
Chiều 23/6, Mạng lưới nghiên cứu chính sách nông lâm nghiệp tổ chức hội thảo trực tuyến chủ đề 'Xây dựng bộ dữ liệu vùng trồng để phục vụ công tác quản lý và đáp ứng EUDR: Cách tiếp cận từ dưới lên'.

Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà quản lý cho rằng xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng không chỉ là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), mà còn là nền tảng để chuyển đổi phương thức quản lý nông nghiệp từ dựa trên báo cáo, số liệu giấy sang quản trị ngành hàng dựa trên dữ liệu.

Nông dân trồng cà phê Robusta tại Đắk Lắk đang thu hoạch. Ảnh: Kha Phạm - TTXVN

Theo ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia Tổ chức Forest Trends, cơ sở dữ liệu vùng trồng là tập hợp các thông tin định lượng và định tính liên quan đến đất đai, cây trồng, diện tích, năng suất, chủ thể sản xuất cùng các dữ liệu không gian như bản đồ, tọa độ. Đây là nền tảng tích hợp phục vụ công tác quản lý và truy xuất nguồn gốc.
Hệ thống dữ liệu này không chỉ hỗ trợ quản lý nhà nước mà còn giúp xây dựng chính sách, nhận diện rủi ro, định hướng đầu tư và giám sát chuỗi cung ứng. Đối với doanh nghiệp, dữ liệu vùng trồng là công cụ minh bạch hóa nguồn cung, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy dữ liệu đang bị phân tán giữa các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nông dân, thiếu khả năng kết nối và chia sẻ.
Từ góc độ địa phương, ông Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông (cũ, nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng) cho rằng, Việt Nam hiện không thiếu dữ liệu nhưng lại thiếu một hệ thống kết nối thống nhất.

Theo ông Phạm Tuấn Anh, doanh nghiệp đã có dữ liệu về vùng nguyên liệu và vùng liên kết sản xuất. Hợp tác xã và nông dân có dữ liệu về diện tích canh tác, thành viên, sản lượng. Các cơ quan quản lý nhà nước cũng nắm số liệu về diện tích, năng suất, sản lượng của từng cây trồng ở từng địa phương. Tuy nhiên, các dữ liệu này vẫn tồn tại rời rạc ở nhiều nơi khác nhau, chưa được kết nối để phục vụ công tác quản lý và ra quyết định.
Ông Phạm Tuấn Anh cũng cho rằng hiện nay ở cơ sở vẫn còn sự nhầm lẫn giữa mã số vùng trồng và cơ sở dữ liệu vùng trồng. Mã số vùng trồng là công cụ kỹ thuật để phục vụ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của từng thị trường. Trong khi đó, cơ sở dữ liệu vùng trồng là nền tảng dữ liệu giúp nhận diện không gian sản xuất, kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị và phục vụ quản lý.
Theo ông Phạm Tuấn Anh, cơ sở dữ liệu vùng trồng không phải là đích đến của truy xuất nguồn gốc. Ngược lại, truy xuất nguồn gốc phải dựa trên cơ sở dữ liệu vùng trồng để đáp ứng yêu cầu của thị trường. Quan trọng hơn, cơ sở dữ liệu vùng trồng chính là nền tảng để chuyển đổi từ phương thức quản lý dựa trên báo cáo, số liệu giấy sang quản trị ngành hàng dựa trên dữ liệu, qua đó nâng cao hiệu quả điều hành và phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững.
Chia sẻ kinh nghiệm từ địa phương, ông Phạm Đình Lai, Chi cục trưởng Chi cục Nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên cho biết, địa phương đang xác định cà phê và mắc ca là hai ngành hàng chủ lực giai đoạn 2026-2030.
Hiện toàn tỉnh có hơn 9.000 ha cà phê, định hướng phát triển 20.000 ha vào năm 2030 song quá trình mở rộng vùng nguyên liệu đang đặt ra yêu cầu phải đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là truy xuất nguồn gốc và chống phá rừng theo EUDR. Đây là thách thức không nhỏ đối với một tỉnh miền núi còn hạn chế về nguồn lực.
Theo ông Phạm Đình Lai, Điện Biên đã lựa chọn cách tiếp cận “từ dưới lên”, trong đó cấp xã được xác định là lực lượng nòng cốt trong tổ chức triển khai. Một số xã được lựa chọn làm điểm, cán bộ được tập huấn để trực tiếp hướng dẫn người dân thu thập dữ liệu. Kết quả bước đầu cho thấy tính khả thi của mô hình. Người dân đã từng bước tham gia vào quá trình xây dựng dữ liệu và hiểu rõ hơn các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc của thị trường.
Đánh giá về vai trò của cơ sở dữ liệu vùng trồng, ông Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với công tác truy xuất nguồn gốc, không chỉ để đáp ứng quy định của pháp luật Việt Nam mà còn để thích ứng với những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế, đặc biệt là EUDR.
Theo ông Hà Công Tuấn, cơ sở dữ liệu vùng trồng trước hết phải được xây dựng thống nhất và đồng bộ trên toàn địa bàn. Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, bộ dữ liệu này cần được sử dụng chung từ cấp xã đến cấp tỉnh. Các phương pháp thống kê truyền thống không còn đáp ứng được yêu cầu của truy xuất nguồn gốc cũng như nền kinh tế số. Vì vậy, số hóa dữ liệu và xây dựng bản đồ số là yêu cầu tất yếu.
Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là số hóa mà còn phải lựa chọn giải pháp công nghệ bảo đảm khả năng kết nối và tích hợp dữ liệu giữa các cấp chính quyền, đồng thời cho phép doanh nghiệp và cơ quan quản lý được phân quyền truy cập phù hợp để phục vụ truy xuất nguồn gốc và đánh giá rủi ro.
Bên cạnh đó, dữ liệu cần được thống nhất liên ngành, đặc biệt đối với các loại đất như đất lâm nghiệp, đất trồng cà phê, cao su hay đất chăn nuôi, bảo đảm không chồng lấn trên quy hoạch không gian.
Để thuận lợi cho quản lý, ông Tuấn đề xuất phân loại dữ liệu theo ba mức độ gồm “màu xanh” đối với các diện tích đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lý và truy xuất nguồn gốc; “màu vàng” đối với những diện tích còn một số vướng mắc cần xử lý và “màu đỏ” đối với các diện tích có rủi ro cao, cần được rà soát và xử lý theo quy định.
Theo ông Hà Công Tuấn, việc cập nhật dữ liệu nên giao cho chính quyền cấp xã bởi đây là cấp gần dân nhất, nắm rõ nhất các biến động trong sản xuất và có thể thực hiện việc cập nhật nhanh chóng, chính xác. Để làm nhanh và hiệu quả cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, đồng thời huy động được những lực lượng phù hợp tham gia.

Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ