Doanh nghiệp xuất khẩu và cuộc đua dữ liệu phía sau 'hộ chiếu xanh'
Luật chơi mới của xuất khẩu toàn cầu
Trước đây, doanh nghiệp xuất khẩu chỉ cần làm tốt những điều rất cơ bản như sản phẩm đạt chuẩn, giá cạnh tranh, nhà máy đủ năng lực và đơn hàng được giao đúng hẹn. Các chứng chỉ như ISO, FSC hay BSCI khi đó đóng vai trò như một lớp bảo chứng quan trọng, giúp doanh nghiệp tạo niềm tin với khách hàng quốc tế.
Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Thanh Trung, Giám đốc Công ty CP Leanwares, luật chơi đang thay đổi nhanh chóng. Các thị trường lớn, đặc biệt là châu Âu, không còn chỉ quan tâm doanh nghiệp có chứng nhận hay không mà ngày càng yêu cầu khả năng cung cấp dữ liệu minh bạch, có thể kiểm chứng và truy xuất đến tận nguồn gốc.
Xu hướng này được phản ánh qua hàng loạt quy định mới như Cơ chế điều chỉnh carbon biên giới (CBAM), Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) hay Hộ chiếu sản phẩm số (DPP).

Ông Huỳnh Thanh Trung, Giám đốc Công ty CP Leanwares. Ảnh: Phú Quốc
CBAM đặt doanh nghiệp trước yêu cầu đo lường và báo cáo lượng phát thải carbon gắn với sản phẩm. EUDR tạo thêm áp lực truy xuất nguồn gốc đối với các ngành như gỗ, cà phê, cao su, giấy hay ca cao, đặc biệt là yêu cầu chứng minh nguồn nguyên liệu không liên quan đến phá rừng. Trong khi đó, DPP được kỳ vọng sẽ biến mỗi sản phẩm thành một “hồ sơ số”, cho phép đối tác hoặc người tiêu dùng truy cập thông tin về nguyên liệu, thành phần, phát thải và vòng đời sản phẩm thông qua mã QR.
Điểm chung của các yêu cầu này là doanh nghiệp không còn có thể dừng lại ở những cam kết hay chứng nhận. Mọi tuyên bố về phát thải, nguồn gốc nguyên liệu hay mức độ tuân thủ đều cần được chứng minh bằng dữ liệu có thể kiểm chứng.
Đại diện Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư TP.HCM (ITPC) cho rằng chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mà đã trở thành “tấm hộ chiếu” bắt buộc đối với hàng hóa Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi Liên minh châu Âu (EU) và Hoa Kỳ liên tục nâng cao yêu cầu về môi trường, phát thải và tính minh bạch của chuỗi cung ứng, doanh nghiệp buộc phải chủ động thích ứng để duy trì khả năng tiếp cận thị trường.
Theo ITPC, quá trình này không chỉ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Việc kết hợp số hóa và xanh hóa trong mô hình chuyển đổi kép còn giúp doanh nghiệp tối ưu nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản trị và giảm chi phí vận hành. Dẫn số liệu của Bộ Công thương, ITPC cho biết mô hình này có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm từ 10 - 15% chi phí vận hành, tăng khoảng 20% năng suất lao động và giảm từ 5 - 8% lượng phát thải CO₂ mỗi năm.
Cùng với các quy định mới, cách thức đánh giá doanh nghiệp cũng đang thay đổi. Những bộ hồ sơ dày hàng trăm trang hay các chứng nhận đạt chuẩn không còn là cơ sở duy nhất để chứng minh mức độ tuân thủ.
Giá trị của một chỉ số carbon không còn nằm ở con số được công bố, mà nằm ở khả năng truy xuất toàn bộ dữ liệu hình thành nên con số đó. Doanh nghiệp cần chứng minh được lượng điện năng, nhiên liệu hay nguyên liệu đầu vào đã được sử dụng trong quá trình sản xuất. Tương tự, một cam kết về nguồn gốc bền vững cần đi kèm dữ liệu vùng nguyên liệu, thông tin nhà cung cấp và các chứng từ liên quan.
Đây cũng là điểm nghẽn phổ biến của nhiều doanh nghiệp hiện nay. Không ít doanh nghiệp đã sở hữu các chứng nhận nền tảng nhưng dữ liệu về điện, nước, chất thải, lao động hay nhà cung cấp vẫn nằm rải rác ở nhiều phòng ban, nhiều bảng tính hoặc các loại chứng từ khác nhau.
Chỉ khi khách hàng yêu cầu dấu chân carbon của sản phẩm, dữ liệu định vị vùng nguyên liệu hoặc khả năng truy xuất chuỗi cung ứng, doanh nghiệp mới nhận ra dữ liệu vẫn tồn tại nhưng chưa được tổ chức thành một hệ thống đủ tin cậy để chứng minh.
Nói cách khác, ESG đang chuyển từ câu chuyện “có làm hay không” sang câu chuyện “có chứng minh được hay không” và năng lực chứng minh đó phụ thuộc vào cách doanh nghiệp thu thập, quản lý, kiểm soát dữ liệu ngay từ hoạt động vận hành hằng ngày.
Xây hệ thống dữ liệu ESG từ hoạt động sản xuất
Theo ông Trung, một trong những sai lầm phổ biến khi doanh nghiệp bắt đầu triển khai ESG là cố gắng thu thập quá nhiều dữ liệu.
Nhiều doanh nghiệp tải về một bộ tiêu chuẩn có sẵn rồi tìm cách lấp đầy tất cả các chỉ tiêu. Điều này dẫn đến tình trạng quá tải KPI (chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động), nhân sự phải báo cáo những chỉ số không gắn với thực tế vận hành, trong khi dữ liệu thu thập được lại không phục vụ cho các quyết định quản trị.
Vì vậy, doanh nghiệp cần xác định những chỉ số thực sự trọng yếu đối với ngành nghề và mô hình hoạt động của mình.
Chẳng hạn, doanh nghiệp ngành gỗ và giấy thường chịu áp lực lớn về nguồn gốc nguyên liệu, chứng nhận quản lý rừng bền vững FSC (hội đồng quản trị rừng) hoặc chứng nhận PEFC (chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng), dữ liệu tọa độ vùng nguyên liệu theo yêu cầu của EUDR, mức tiêu thụ điện trên mỗi đơn vị sản phẩm hay tỷ lệ tái chế phế liệu. Trong khi đó, doanh nghiệp dệt may lại phải quan tâm nhiều hơn đến tiêu thụ nước, xử lý nước thải, dấu chân carbon, hóa chất và tỷ lệ vật liệu tái chế.
Sau khi xác định được KPI trọng yếu, doanh nghiệp cần xây dựng dòng chảy dữ liệu tương ứng. Một báo cáo ESG cần bắt đầu từ chính hiện trường sản xuất như máy móc, đồng hồ điện nước, hóa đơn, nhật ký sản xuất, bảng chấm công, phiếu nhập xuất hay dữ liệu từ nhà cung cấp.

Mọi chỉ số ESG đều bắt nguồn từ dữ liệu phát sinh trong quá trình vận hành và sản xuất hàng ngày tại doanh nghiệp. Ảnh: Hoàng Anh
Từ những dữ liệu ban đầu này, doanh nghiệp mới hình thành các chỉ số quản trị như mức tiêu hao năng lượng trên mỗi sản phẩm, tỷ lệ lỗi, hiệu quả sử dụng tài nguyên, an toàn lao động hay lượng phát thải khí nhà kính.
Điều quan trọng là dữ liệu phải được duy trì xuyên suốt và nhất quán trong toàn bộ quá trình vận hành. Doanh nghiệp cần xác định rõ dữ liệu được ghi nhận ở đâu, bằng công cụ nào, ai chịu trách nhiệm kiểm tra và dữ liệu cuối cùng được sử dụng như thế nào trong quản trị.
Việc sao chép dữ liệu thủ công qua quá nhiều bước làm gia tăng nguy cơ sai lệch. Theo ông Trung, chất lượng dữ liệu ESG cần được kiểm soát dựa trên các tiêu chí rõ ràng như tính đầy đủ, chính xác, nhất quán, kịp thời và khả năng truy xuất. Trong đó, khả năng truy xuất là yếu tố đặc biệt quan trọng. Một con số trên báo cáo chỉ thực sự có giá trị khi có thể lần ngược về chứng từ, hóa đơn, thiết bị đo hoặc dữ liệu gốc phát sinh tại hiện trường.
Nếu được thiết kế đúng, ESG không chỉ là công cụ đáp ứng yêu cầu của khách hàng hay cơ quan quản lý mà còn là hệ thống quản trị giúp doanh nghiệp nhìn rõ hơn mức tiêu hao năng lượng, chi phí tài nguyên, rủi ro nhà cung cấp, chất lượng lao động và mức độ tuân thủ trong toàn bộ chuỗi vận hành.
Với doanh nghiệp xuất khẩu, “hộ chiếu xanh” của sản phẩm trong tương lai sẽ không nằm ở một chứng nhận treo trên tường mà ở năng lực chứng minh mọi cam kết bằng dữ liệu minh bạch, nhất quán và có thể truy xuất đến tận xưởng sản xuất.
Quỳnh Anh
1 ngày trước
1 ngày trước
5 ngày trước
7 ngày trước
12 ngày trước
17 ngày trước
18 ngày trước
21 ngày trước
22 ngày trước
26 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 giờ trước
2 giờ trước
16 phút trước
12 phút trước
1 phút trước
3 phút trước
5 phút trước
6 phút trước
10 phút trước
14 phút trước