🔍
Chuyên mục: Kinh tế

EUDR và bài toán quản lý dữ liệu vùng trồng tại Việt Nam

11 giờ trước
Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đang thúc đẩy quá trình số hóa và chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng tại Việt Nam. Dù không thiếu các công cụ hỗ trợ thu thập và quản lý dữ liệu, thách thức hiện nay là lựa chọn giải pháp phù hợp với năng lực triển khai, nguồn lực tài chính và đặc thù quản lý tại từng địa phương.

Nền tảng của truy xuất nguồn gốc

Điểm khác biệt căn bản của EUDR nằm ở việc trách nhiệm chứng minh được chuyển sang doanh nghiệp. Để tiếp cận thị trường EU, doanh nghiệp không chỉ phải bảo đảm chất lượng sản phẩm mà còn phải chứng minh nguồn gốc của từng lô hàng không liên quan đến hoạt động mất rừng sau ngày 31/12/2020. Điều này đồng nghĩa mỗi lô hàng xuất khẩu sang thị trường EU phải xác định được chính xác vị trí địa lý của vùng sản xuất, hiện trạng sử dụng đất và cơ sở pháp lý liên quan đến khu vực canh tác.

Ths. Phạm Ngọc Hải, Viện Điều tra Quy hoạch rừng cho biết, yếu tố cốt lõi để đáp ứng yêu cầu này là xây dựng được cơ sở dữ liệu về vị trí lô đất sản xuất và lịch sử sử dụng đất. Đây là những thông tin nền tảng giúp chứng minh sản phẩm không gây mất rừng, đồng thời tạo cơ sở cho hoạt động truy xuất nguồn gốc và đánh giá mức độ tuân thủ của từng vùng nguyên liệu.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng và quản lý dữ liệu tại Việt Nam đang đối mặt không ít thách thức. Nguồn lực tài chính còn hạn chế, nhân lực chuyên môn chưa đồng đều, trong khi năng lực triển khai giữa các địa phương vẫn có sự chênh lệch đáng kể. Đặc biệt, đặc thù sản xuất manh mún với số lượng lớn hộ nông dân quy mô nhỏ khiến việc quản lý thông tin phức tạp hơn nhiều so với các vùng nguyên liệu tập trung.

“Trong điều kiện nguồn lực đầy đủ thì việc đáp ứng EUDR không quá khó. Nhưng với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt là khu vực nông hộ và hộ sản xuất nhỏ, đây là thách thức rất lớn”, ông Phạm Ngọc Hải phân tích.

Ở góc độ rộng hơn, TS. Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends cho rằng, truy xuất nguồn gốc hiện không còn là yêu cầu riêng của thị trường EU mà đang dần trở thành yêu cầu quản lý chung tại Việt Nam. Theo định hướng của Chính phủ, đến cuối năm 2026, toàn bộ sản phẩm nông nghiệp, kể cả hàng nhập khẩu tiêu thụ trong nước, đều phải bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc. Muốn thực hiện được điều này cần xây dựng đồng thời hai nền tảng quan trọng là hệ thống dữ liệu sản xuất và bộ hồ sơ pháp lý chứng minh tính hợp pháp của sản phẩm.

Trong đó, hệ thống dữ liệu phải phản ánh đầy đủ các thông tin về vùng nguyên liệu như vị trí lô đất, diện tích, tọa độ địa lý, hiện trạng cây trồng và quá trình sản xuất. Cùng với đó là các tài liệu pháp lý liên quan đến quyền sử dụng hoặc quyền canh tác đất đai, bao gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng giao khoán và các hồ sơ có giá trị pháp lý khác. Đây là những căn cứ quan trọng để xác minh nguồn gốc và bảo đảm tính minh bạch của chuỗi cung ứng theo yêu cầu ngày càng cao của các thị trường trong và ngoài nước.

Đánh giá thực trạng hiện nay, TS. Tô Xuân Phúc cho biết Việt Nam đã xây dựng được nhiều cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý sản xuất như diện tích cà phê, cao su, rừng trồng hay sản lượng khai thác gỗ. Tuy nhiên, phần lớn mới dừng ở mức tổng hợp, chưa đủ chi tiết để xác định từng lô, thửa đất cụ thể cùng tình trạng pháp lý rõ ràng.

“Yêu cầu của EUDR là phải xác định được từng lô đất cụ thể cùng thông tin pháp lý đi kèm. Trong khi đó, nhiều hệ thống hiện nay mới phản ánh quy mô diện tích ở cấp tổng hợp nên chưa đủ để phục vụ truy xuất nguồn gốc”, ông Phúc nhận xét.

Để đáp ứng quy định EUDR, Việt Nam đang đối mặt bài toán lớn về thu thập và quản lý dữ liệu vùng trồng

Bài toán chuẩn hóa và liên thông dữ liệu

Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra không phải là Việt Nam có hay không có công cụ thu thập thông tin, mà là làm thế nào để xây dựng được một hệ thống quản lý thống nhất, bảo đảm khả năng kết nối và đáp ứng yêu cầu của thị trường với chi phí phù hợp.

Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là tình trạng phân tán thông tin. Mỗi ngành hàng, doanh nghiệp hoặc địa phương đang xây dựng cơ sở dữ liệu theo những cách khác nhau, từ cấu trúc, trường thông tin đến phương thức quản lý. Điều này khiến việc chia sẻ, kết nối và khai thác phục vụ truy xuất nguồn gốc gặp nhiều khó khăn.

Ths. Phạm Ngọc Hải cho rằng để đáp ứng yêu cầu của EUDR, hệ thống dữ liệu vùng trồng cần bảo đảm năm yếu tố cốt lõi gồm định danh rõ từng lô đất, chuẩn hóa định dạng dữ liệu, xây dựng quy trình thu thập thông tin đáng tin cậy, bổ sung đầy đủ các minh chứng pháp lý và bảo đảm khả năng xác minh. Trong đó, bên cạnh việc ứng dụng các nền tảng bản đồ số và dữ liệu không gian, nhiều thông tin quan trọng vẫn phải được kiểm chứng trực tiếp tại thực địa. Toàn bộ dữ liệu sau khi thu thập cần được tích hợp vào hệ thống đánh giá rủi ro nhằm phục vụ truy xuất nguồn gốc và xác định mức độ tuân thủ các tiêu chí của EUDR.

Bên cạnh dữ liệu vùng trồng, bản đồ ranh giới rừng năm 2020 cũng được xem là một trong những dữ liệu nền tảng quan trọng nhất. TS. Trương Tất Đơ, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, ngày 31/12/2020 là “mốc tham chiếu bắt buộc” của EUDR. Mọi thay đổi trạng thái rừng sau thời điểm này đều có thể bị xem là liên quan đến mất rừng.

“Muốn chứng minh sản phẩm không gây mất rừng thì bắt buộc phải có bản đồ ranh giới rừng tại hoặc trước thời điểm 31/12/2020 để đối chiếu. Nếu dùng dữ liệu sau thời điểm này sẽ không còn giá trị đối với EUDR”, TS. Trương Tất Đơ nhận định.

Bên cạnh đó, EUDR yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp tọa độ địa lý của khu vực sản xuất. Với diện tích dưới 4 ha có thể xác định bằng một điểm tọa độ; còn diện tích trên 4 ha phải xác định bằng đa giác khép kín (polygon).

Theo các chuyên gia, việc xây dựng và công bố bản đồ ranh giới rừng năm 2020 là cần thiết trong bối cảnh nhiều tổ chức quốc tế đã công khai dữ liệu rừng toàn cầu dựa trên ảnh vệ tinh. Nếu thiếu dữ liệu đối chứng chính thức, nguy cơ phát sinh sai lệch trong quá trình đánh giá là rất lớn. Một số mô hình sản xuất như cà phê có cây che bóng hoặc hệ thống nông lâm kết hợp có thể bị nhận diện nhầm là rừng nếu chỉ dựa vào dữ liệu viễn thám mà thiếu kiểm chứng thực địa. Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp và người sản xuất.

Trà Giang

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ