93 triệu thùng dầu có thể được giải phóng khi mở lại eo biển Hormuz

Tàu di chuyển qua eo biển Hormuz. (Ảnh: AA/TTXVN)
Theo các nhà phân tích và các nhà giao dịch, các thị trường dầu thô Trung Đông có thể chịu thêm sức ép nếu eo biển Hormuz mở cửa trở lại vào ngày 19/6 sau thỏa thuận tạm thời giữa Mỹ và Iran, giải phóng hàng triệu thùng dầu bị mắc kẹt ở vùng Vịnh vào thị trường toàn cầu.
Nhà phân tích Muyu Xu của công ty cung cấp dữ liệu và phân tích thị trường hàng hóa Kpler nhận định việc mở cửa trở lại eo biển Hormuz có thể giải phóng khoảng 93 triệu thùng dầu không phải của Iran bị mắc kẹt ở Vịnh Ba Tư.
Một số nhà giao dịch ước tính con số này vào khoảng 50 triệu thùng vì một số lô hàng đã được vận chuyển ra ngoài.
Theo Kpler, việc Mỹ dỡ bỏ các hạn chế đối với dầu thô của Iran cũng có thể giải phóng khoảng 72 triệu thùng dầu đang bị mắc kẹt trên các tàu chở dầu ở phía tây thành phố cảng Chabahar của nước này. Thậm chí, con số sẽ còn tăng thêm nếu Mỹ nới lỏng các lệnh trừng phạt rộng hơn.
Hạm đội tàu của Iran đang chuẩn bị tăng cường xuất khẩu với ba tàu chở dầu của nước này rời khỏi eo biển Hormuz trong tuần này, nơi từng vận chuyển khoảng 20% lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên hóa lỏng của thế giới trước khi Mỹ và Israel tiến hành hoạt động quân sự nhằm vào Iran vào ngày 28/2.
Trong khi nguồn cung dự kiến sẽ tăng mạnh, hầu hết các nhà máy lọc dầu châu Á đã đặt trước các lô hàng dầu thô sẽ đến vào tháng 6 đến tháng 8 tới và một số nhà máy lọc dầu ở Trung Quốc dự kiến sẽ đóng cửa để bảo trì.
Điều này sẽ làm giảm nhu cầu về nguồn cung tức thời. Một nhà giao dịch có trụ sở tại Singapore cho rằng các nhà cung cấp dầu thô sẽ cần phải giảm giá hơn nữa để thu hút nhu cầu khi eo biển Hormuz mở cửa trở lại.

Công nhân làm việc tại nhà máy lọc dầu của Iran trên đảo Khark. (Ảnh: IRNA/TTXVN)
Các nhà giao dịch cho rằng việc tăng nguồn cung dầu thô từ Trung Đông sẽ làm sâu sắc thêm hiện tượng giá theo hợp đồng tương lai cao hơn giá giao ngay.
Giá thực tế dầu thô Dubai đã vượt giá theo hợp đồng hoán đổi kỳ hạn vào ngày 17/6, sau khi thấp hơn 46 xu một ngày trước đó. Việc giá giao ngay thấp hơn giá hợp đồng kỳ hạn cho thấy nguồn cung dồi dào.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các đồng minh, còn gọi là OPEC+, gần đây thông báo sẽ nâng sản lượng thêm 188.000 thùng/ngày kể từ tháng 7/2026, đánh dấu lần tăng thứ tư liên tiếp trong bốn tháng qua.
Quyết định này được đưa ra bởi 7 quốc gia nòng cốt: Saudi Arabia, Iraq, Kuwait, Algeria, Kazakhstan, Nga và Oman.
Động thái này diễn ra trong bối cảnh xung đột Trung Đông gây gián đoạn hàng hải nghiêm trọng tại eo biển Hormuz, tạo ra cuộc khủng hoảng nguồn cung dầu lớn nhất lịch sử.
Từ cuối tháng 2/2026, các thành viên chủ chốt như Saudi Arabia đã không thể đáp ứng đủ đơn hàng. Tình hình càng khó khăn hơn khi Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) rời khỏi tổ chức sau 60 năm gắn bó.
Mặc dù bảy thành viên chủ chốt của OPEC+ đã liên tục nâng sản lượng thêm gần 600.000 thùng/ngày từ tháng 4 đến tháng 6/2026, nhưng sản lượng thực tế của khối lại sụt giảm mạnh, từ 42,77 triệu thùng/ngày (tháng Hai) xuống còn 33,19 triệu thùng/ngày (tháng 4) do đình trệ xuất khẩu tại vùng Vịnh.
Ngoài cuộc họp của nhóm bảy nước, OPEC+ còn tổ chức thêm các cuộc họp cấp bộ trưởng toàn khối, nhưng theo nguồn tin nội bộ, chính sách sản lượng chung sẽ không thay đổi.
Diễn biến này cho thấy OPEC+ đang cố gắng duy trì sự ổn định, bất chấp nguồn cung toàn cầu bị gián đoạn nghiêm trọng và những thách thức lớn từ căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông.
Trước đó, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhận định cuộc xung đột tại Trung Đông đang đẩy các quốc gia vào cuộc khủng hoảng năng lượng tồi tệ nhất lịch sử, buộc thế giới phải gấp rút mở các tuyến cung ứng mới và quay lại tận dụng tối đa các nguồn tài nguyên nội địa.

Nhà máy lọc dầu Shuaiba ở cách thủ đô Kuwait City của Kuwait 30km về phía Nam. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Trong báo cáo "Đầu tư Năng lượng Thế giới" gần đây, Giám đốc điều hành IEA Fatih Birol nhấn mạnh thế giới đang ở giữa cuộc khủng hoảng an ninh năng lượng lớn nhất từ trước đến nay.
Cú sốc này sẽ định hình lại toàn bộ chiến lược đầu tư toàn cầu, tương tự như những thay đổi lớn thời kỳ khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970.
Theo ông Birol, cả các nước sản xuất lẫn tiêu thụ đều đang chạy đua đa dạng hóa các tuyến thương mại và nguồn năng lượng. Các quốc gia một mặt thúc đẩy xây dựng đường ống và hạ tầng cung ứng mới, mặt khác đẩy mạnh khai thác các nguồn năng lượng có sẵn trong nước.
Sự thay đổi chiến lược này phản ánh rõ qua các số liệu đầu tư. IEA ước tính tổng vốn đầu tư năng lượng toàn cầu trong năm 2026 sẽ đạt 3.400 tỷ USD, tăng nhẹ so với năm trước.
Trong đó, khoảng 2.200 tỷ USD được rót vào lưới điện, hệ thống lưu trữ, nhiên liệu phát thải thấp, điện hạt nhân, năng lượng tái tạo, cũng như các dự án nâng cao hiệu suất và điện khí hóa. Khoảng 1.200 tỷ USD còn lại tiếp tục chảy vào dầu mỏ, khí đốt tự nhiên và than đá.
Đáng chú ý, dòng vốn đổ vào các loại nhiên liệu hóa thạch có sự phân hóa mạnh mẽ. Đầu tư vào khí đốt tự nhiên dự kiến tăng vọt lên 330 tỷ USD, mức cao nhất trong một thập kỷ qua.
Lực đẩy chính đến từ làn sóng các dự án xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) mới, đặc biệt tại Mỹ và Qatar.
Đồng thời, để xoay sở với khủng hoảng, các nước nhập khẩu dầu đang quay sang tận dụng than đá, đẩy mức đầu tư vào lĩnh vực này lên 180 tỷ USD (cao nhất 10 năm).
Riêng Trung Quốc chiếm gần 70% tổng chi tiêu cho nguồn cung than toàn cầu. Nhiều quốc gia châu Á khác cũng đang tìm cách kéo dài tuổi thọ các nhà máy nhiệt điện than hiện hữu để củng cố an ninh năng lượng.
Dù giá dầu thô đang tăng, IEA dự báo vốn đầu tư vào mảng này trong năm 2026 sẽ giảm năm thứ ba liên tiếp, xuống dưới mốc 500 tỷ USD do những bất ổn về thời gian duy trì mức giá cao, thời gian triển khai dự án kéo dài, rào cản nguồn cung và sự khan hiếm trên thị trường giàn khoan ngoài khơi đang cản trở các khoản đầu tư ngắn hạn bên ngoài khu vực Trung Đông.
Ở mảng năng lượng sạch, báo cáo của IEA cho biết các quốc gia sẽ chi khoảng 665 tỷ USD cho năng lượng tái tạo trong năm 2026, trong đó riêng điện Mặt trời chiếm tới 365 tỷ USD. Dòng vốn đầu tư vào điện hạt nhân cũng dự kiến vượt mốc 80 tỷ USD/năm.
Để đáp ứng sự chuyển dịch đồng bộ này, IEA dự báo nguồn vốn đầu tư vào hạ tầng và nguồn cung điện lực sẽ đạt gần 1.600 tỷ USD vào năm 2026. Trong số này, khoảng 550 tỷ USD được phân bổ cho lưới điện và hơn 100 tỷ USD dành riêng cho các hệ thống pin lưu trữ./.
(TTXVN/Vietnam+)
38 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
8 giờ trước
22 phút trước
26 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước