🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Xuất khẩu tăng mạnh, nhập siêu gần 17 tỷ USD: Việt Nam cần nâng năng lực sản xuất để giữ đà tăng trưởng

3 giờ trước
Đà tăng trưởng xuất khẩu hai con số đang tạo động lực cho kinh tế Việt Nam, nhưng nhập khẩu nguyên liệu, máy móc và linh kiện còn tăng nhanh hơn. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gia tăng, nâng cao năng lực sản xuất trong nước và gia tăng giá trị nội địa sẽ là chìa khóa cho tăng trưởng bền vững.

Xuất khẩu đến giữa tháng 6/2026 tăng trên 21%, nhập khẩu tăng nhanh hơn khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu khoảng 16,8 tỷ USD.

Tuy nhiên, khi phần lớn nhập khẩu là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và linh kiện phục vụ sản xuất, vấn đề đặt ra không chỉ là thúc đẩy xuất khẩu tăng nhanh hơn, mà còn là biến tăng trưởng xuất khẩu thành năng lực sản xuất quốc gia.

Nhập siêu phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất

Tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số diễn ra sáng 25/6, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, trong bối cảnh tăng trưởng thương mại toàn cầu được dự báo chậm lại đáng kể, xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao.

Tính đến giữa tháng 6 năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 240 tỷ USD, tăng trên 21% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu cả năm. Song song với đó, kim ngạch nhập khẩu đạt trên 256 tỷ USD - tăng trên 33%. Điều này khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu 16,8 tỷ USD.

Nếu chỉ nhìn vào con số nhập siêu, có thể xuất hiện lo ngại về mất cân đối thương mại. Song theo đại diện Bộ Công Thương, cần nhận diện đúng bản chất của hiện tượng này.

Cụ thể, nhập siêu không chủ yếu đến từ tiêu dùng. Gần 88% kim ngạch nhập khẩu là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, năng lượng và linh kiện phục vụ sản xuất, thể hiện nền kinh tế đang trong trạng thái mở rộng năng lực sản xuất, chuẩn bị cho một chu kỳ tăng trưởng mới.

Cùng với đó, nhiều tập đoàn lớn như Samsung, LG, Foxconn, Lenovo, BYD và các doanh nghiệp công nghệ cao đang mở rộng sản xuất, nhập khẩu linh kiện, thiết bị, dây chuyền, nguyên liệu đầu vào để hình thành năng lực sản xuất mới tại Việt Nam. Điều này cho thấy Việt Nam tiếp tục là điểm đến quan trọng trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Dù vậy, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho rằng, việc kim ngạch nhập khẩu đầu vào tăng nhanh hơn xuất khẩu cũng phản ánh thực tế: Việt Nam đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng phần lớn vẫn đang ở các khâu gia công, lắp ráp, hoàn thiện sản phẩm. Trong khi các khâu có giá trị gia tăng cao hơn như thiết kế, vật liệu, linh kiện, công nghệ lõi vẫn còn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.

Vì vậy, theo Bộ Công Thương, nhiệm vụ trong giai đoạn tới không đơn thuần là thúc đẩy xuất khẩu tăng nhanh hơn, mà mục tiêu cao hơn là biến tăng trưởng xuất khẩu thành tăng trưởng năng lực sản xuất quốc gia.

Trong bức tranh đó, ở góc độ doanh nghiệp bà Đỗ Thị Thúy Hương, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất máy tính, máy chủ, bảng mạch điện tử, module điện tử và linh kiện đang lý giải, mức tăng trưởng đơn hàng từ 15 - 30% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều doanh nghiệp đã có đơn hàng đến hết quý III và một phần quý IV/2026. Đặc biệt, các đơn hàng liên quan đến thiết bị hạ tầng mạng đang tăng trưởng mạnh. Các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng của Samsung, Apple và LG tiếp tục duy trì công suất sản xuất ở mức cao.

Những tháng đầu năm 2026, ngành điện tử đã giữ vai trò là ngành xuất khẩu chủ lực, đóng góp trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Hiệp hội dự báo tổng kim ngạch xuất khẩu điện tử cả năm có thể tăng từ 15 - 20% so với năm 2025 nhờ nhu cầu thị trường thế giới sẽ tiếp tục cải thiện trong mùa mua sắm cuối năm tại Hoa Kỳ và châu Âu, làn sóng đầu tư vào AI, điện toán đám mây và trung tâm dữ liệu, chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng theo mô hình “Trung Quốc+1”...

Ngành thép cũng được đánh giá có triển vọng tích cực. Theo ông Đinh Quốc Thái, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thép Việt Nam, xuất khẩu thép 6 tháng ước đạt khoảng 1,79 triệu tấn, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, cả năm 2026, xuất khẩu thép dự kiến đạt khoảng 6 triệu tấn (cao hơn đáng kể so với mức 3,15 triệu tấn của năm 2025). Trong khi đó, nhập khẩu thép được dự báo giảm so với năm trước.

“Việc xuất khẩu tăng và nhập khẩu giảm được chúng tôi đánh giá là tín hiệu tích cực. Kết quả này có được nhờ các biện pháp quản lý thị trường trong nước, các giải pháp về thương mại của cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là Bộ Công Thương, cùng với khả năng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thị trường của các doanh nghiệp thép Việt Nam”, ông Đinh Quốc Thái nhận định.

Ở chiều ngược lại, không phải ngành hàng nào cũng có thể đạt tốc độ tăng trưởng hai con số. Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Đại diện Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết ngành vẫn đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khoảng 6%/mỗi năm theo Chiến lược phát triển ngành. Đây là mức tăng trưởng thận trọng hơn so với mục tiêu hai con số của toàn nền kinh tế.

Theo ông Cẩm, quá trình tăng trưởng mạnh mẽ trong hơn hai thập kỷ qua khiến dư địa phát triển theo chiều rộng của ngành dệt may ngày càng thu hẹp.

"Dư địa tăng trưởng của ngành trong điều kiện cạnh tranh rất khốc liệt hiện nay không còn nhiều. Vì vậy, chúng tôi đã nhiều lần báo cáo Chính phủ và các bộ, ngành rằng dệt may sẽ tập trung vào nâng cao chất lượng tăng trưởng thay vì chỉ mở rộng quy mô", ông Cẩm nói.

Ngành lúa gạo cũng đang đối mặt với áp lực về giá. 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 4 triệu tấn gạo với kim ngạch trên 2,2 tỷ USD, tăng 1,8% về lượng so với cùng kỳ năm 2025 nhưng giảm 7,38% về giá trị. Điều này cho thấy cạnh tranh quốc tế gay gắt đang tạo sức ép lớn lên giá xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Từ tăng trưởng xuất khẩu đến năng lực sản xuất quốc gia

Theo Bộ Công Thương, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đang chịu tác động ngày càng lớn từ các thay đổi chính sách thương mại, đầu tư và quản lý nhập khẩu của các thị trường đối tác.

Nửa cuối năm, các yếu tố rủi ro bên ngoài đáng chú ý gồm chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, biến động địa chính trị tại Trung Đông...

Đối với thị trường Hoa Kỳ, trước mắt mức thuế 12,5% bổ sung áp sau vụ việc điều tra theo Điều 301 liên quan đến lao động cưỡng bức chưa công bố thời điểm áp dụng. Trong khi đó, mức phụ thu nhập khẩu tạm thời 10% áp dụng trong 150 ngày theo Điều 122 của Luật Thương mại Hoa Kỳ năm 1974 sẽ dụng đến hết ngày 23/7/2026.

“Do vậy, cơ bản mức thuế bổ sung theo Điều 301 trên sẽ thay thế cho mức phụ thu nhập khẩu tạm thời trong thời gian tới”, Bộ Công Thương nhận định khả năng mức thuế được nâng lên cao hơn sẽ thu hẹp lợi nhuận doanh nghiệp. Nhịp độ xuất khẩu sang Hoa Kỳ một số mặt hàng tiêu dùng trong ngắn hạn có thể ảnh hưởng nhẹ.

Bên cạnh đó, các rủi ro địa chính trị tại khu vực Trung Đông vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt, trong khi thị trường năng lượng và vận tải quốc tế cần thêm thời gian để ổn định. Giá dầu và chi phí logistics vẫn duy trì ở mức cao, tiếp tục gây áp lực lên chi phí sản xuất, vận tải và hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đầy thách thức, các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp đã đề xuất nhiều nhóm giải pháp, kiến nghị tập trung vào 5 nhóm vấn đề chính, gồm: chính sách về nguồn lực sản xuất và phát triển ngành hàng; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và truy xuất nguồn gốc; tài chính, logistics và hạ tầng hỗ trợ xuất khẩu; thủ tục hành chính, thời gian và chi phí tuân thủ; chính sách về thị trường và xúc tiến thương mại.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị thúc đẩy xuất khẩu, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh vai trò của sản xuất trong nước. Theo Phó Thủ tướng, xuất khẩu chỉ có thể phát triển bền vững khi dựa trên năng lực sản xuất thực chất của nền kinh tế. Hiện khu vực FDI vẫn chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu. Vì vậy, cần có giải pháp mạnh mẽ để phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỉ lệ nội địa hóa, gia tăng giá trị gia tăng trong nước và từng bước nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh 7 vấn đề trọng tâm gồm: tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về nguồn lực sản xuất và phát triển ngành hàng; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững; tháo gỡ khó khăn về tài chính, logistics và hạ tầng hỗ trợ xuất khẩu; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; đẩy mạnh công tác phát triển thị trường, cảnh báo sớm và xúc tiến thương mại; tăng cường cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp; tăng cường phối hợp, phân tích và quản trị xuất nhập khẩu.

Có thể thấy, những kiến nghị, đề xuất của các ngành hàng, doanh nghiệp và chỉ đạo của Chính phủ không dừng lại ở những giải pháp ngắn hạn hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số mà quan trọng hơn, đó là tăng trưởng dựa trên năng lực sản xuất, năng lực công nghệ, chất lượng sản phẩm và mức độ tham gia sâu hơn của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đỗ Kiều

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ