🔍
Chuyên mục: Tài chính

Vốn ngân hàng: Trụ cột tài chính của DNNN

5 giờ trước
Trong nhiều năm qua, tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn quan trọng đối với hoạt động đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đặc biệt trong các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng và công nghiệp nền tảng. Trao đổi với Thời báo Ngân hàng TS. Lê Xuân Nghĩa – Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia đã chia sẻ những đánh giá về vai trò của nguồn vốn này đối với hoạt động của DNNN cũng như một số vấn đề đặt ra trong việc huy động vốn cho các dự án lớn của nền kinh tế.

Thưa ông, nhìn lại trong nhiều năm qua, ông đánh giá như thế nào về vai trò của vốn tín dụng ngân hàng đối với hoạt động đầu tư và phát triển của khu vực DNNN?

Có thể nói vốn tín dụng ngân hàng giữ vai trò rất quan trọng đối với khu vực DNNN. Một trong những lý do là khả năng huy động vốn của khu vực này từ các nguồn khác còn khá hạn chế.

Khác với doanh nghiệp tư nhân, phần lớn tài sản của DNNN là tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Vì vậy, giá trị tài sản có thể sử dụng để bảo đảm cho các khoản vay không phải lúc nào cũng linh hoạt như khu vực tư nhân. Trong khi đó, nguồn vốn tích lũy nội bộ của nhiều DNNN cũng không lớn do họ phải thực hiện nhiều nhiệm vụ chính sách và các mục tiêu kinh tế - xã hội bên cạnh mục tiêu lợi nhuận.

Bên cạnh đó, phần vốn có thể tái đầu tư từ lợi nhuận sau khi trích lập các quỹ thường khá hạn chế. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước cũng không thể cấp vốn thường xuyên cho doanh nghiệp, vốn tín dụng ngân hàng trở thành nguồn lực rất quan trọng để DNNN triển khai các dự án đầu tư. Ngoài ra, khả năng huy động vốn trên thị trường chứng khoán của nhiều DNNN hiện nay vẫn còn hạn chế. Một số tập đoàn lớn đã cổ phần hóa và niêm yết, nhưng phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa niêm yết hoặc tỷ lệ cổ phần hóa còn thấp. Vì vậy, kênh huy động vốn từ thị trường chứng khoán chưa thực sự phát huy vai trò.

Tương tự, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp đối với khu vực này cũng không phổ biến như khu vực tư nhân.

Do đó, trong nhiều trường hợp, DNNN vẫn phụ thuộc khá lớn vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Ông nhìn nhận như thế nào về hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của khu vực DNNN trong thời gian qua?

Nhìn chung, chất lượng tín dụng đối với khu vực DNNN thường khá tốt. Một trong những lý do là các doanh nghiệp này chủ yếu hoạt động trong những lĩnh vực tương đối ổn định và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, như năng lượng, hàng không, dầu khí, vận tải, hạ tầng hay viễn thông.

Những lĩnh vực này có nhu cầu thị trường ổn định, rủi ro không quá cao và thường gắn với các mục tiêu phát triển dài hạn của quốc gia. Do đó, khả năng trả nợ và chất lượng tài sản của các khoản vay đối với khu vực này nhìn chung tương đối tốt, tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp.

Bên cạnh đó, nhiều DNNN có hệ thống quản trị tương đối bài bản, đội ngũ nhân lực có trình độ và kinh nghiệm trong những lĩnh vực kỹ thuật phức tạp. Vì vậy, việc sử dụng vốn đầu tư, đặc biệt trong các dự án lớn, thường được triển khai theo những quy trình khá chặt chẽ. Từ góc độ đóng góp cho nền kinh tế, khu vực DNNN vẫn giữ vai trò quan trọng trong nhiều ngành, lĩnh vực then chốt. Các tập đoàn lớn như dầu khí, điện lực, hàng không hay vận tải biển đều gắn với các mục tiêu phát triển hạ tầng và năng lượng của nền kinh tế.

Những lĩnh vực này không chỉ có nhu cầu vốn rất lớn mà còn có ý nghĩa chiến lược đối với tăng trưởng dài hạn. Do đó, các dự án đầu tư của DNNN trong nhiều trường hợp tạo ra tác động lan tỏa đáng kể đối với sự phát triển của nền kinh tế.

Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động và phát huy vai trò dẫn dắt của khu vực DNNN. Theo ông, trong bối cảnh đó, vốn ngân hàng cần được định hướng như thế nào để vừa hỗ trợ DNNN thực hiện các dự án lớn, vừa bảo đảm hiệu quả và bền vững?

Nghị quyết 79 không đề cập trực tiếp nhiều đến vấn đề tín dụng ngân hàng, mà chủ yếu nhấn mạnh vai trò của DNNN trong việc tiên phong ở các lĩnh vực mũi nhọn, đặc biệt là khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để DNNN thực hiện được vai trò này thì vấn đề vốn là rất quan trọng. Đầu tư cho khoa học - công nghệ thường có mức độ rủi ro cao và thời gian thu hồi vốn dài. Nhiều dự án nghiên cứu và phát triển gần như không có tài sản thế chấp, trong khi kết quả đầu tư lại rất khó dự đoán.

Chính vì vậy, hệ thống ngân hàng thương mại khó có thể tài trợ toàn bộ cho các dự án dạng này. Về nguyên tắc, ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho nhu cầu ngắn và trung hạn của nền kinh tế. Trong khi đó, nhiều dự án hạ tầng hoặc dự án công nghệ lại có thời gian thu hồi vốn rất dài, thậm chí kéo dài hàng chục năm.

Mặt khác, việc quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng để tài trợ cho các dự án như vậy sẽ tạo áp lực lớn cho hệ thống tài chính. Vì vậy, về dài hạn, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn các kênh huy động vốn trung và dài hạn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán và các quỹ đầu tư phát triển.

Khi các kênh vốn này phát triển đầy đủ hơn, hệ thống ngân hàng sẽ có điều kiện tập trung vào những lĩnh vực phù hợp với chức năng của mình, đồng thời các dự án lớn của nền kinh tế cũng sẽ có nguồn vốn ổn định và bền vững hơn.

Quay trở lại Nghị quyết 79, để DNNN thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong khoa học - công nghệ, theo tôi, cần có sự hỗ trợ đáng kể từ ngân sách nhà nước, đặc biệt trong các hoạt động nghiên cứu, mua công nghệ, xây dựng phòng thí nghiệm hoặc các cơ sở sản xuất thử nghiệm…

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy giai đoạn đầu, nhà nước thường đóng vai trò chủ đạo trong việc tài trợ cho nghiên cứu và phát triển. Sau khi công nghệ được hình thành và thương mại hóa, khu vực doanh nghiệp và hệ thống tài chính mới có thể tham gia sâu hơn.

Hiện nhà nước nắm cổ phần chi phối tại nhiều ngân hàng lớn. Theo ông, cần có giải pháp gì để các ngân hàng này nâng cao năng lực tài chính và tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong cung ứng vốn cho nền kinh tế?

Một trong những vấn đề lớn hiện nay là việc tăng vốn cho các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn còn khá chậm. Trong khi quy mô tín dụng của nền kinh tế ngày càng lớn, các ngân hàng cần tăng vốn để bảo đảm các tỷ lệ an toàn theo quy định. Theo tôi, nhà nước nên có cơ chế rõ ràng cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước giữ lại một phần lợi nhuận hằng năm để bổ sung vốn điều lệ. Tỷ lệ giữ lại có thể được quy định theo chu kỳ chẳng hạn trong 3 - 5 năm.

Cơ chế này mang lại hai lợi ích. Thứ nhất, tạo động lực để các ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn nhằm gia tăng lợi nhuận và tăng vốn tự có. Thứ hai, giúp ngân sách nhà nước chủ động hơn, tránh tình trạng mỗi lần tăng vốn lại phải xin cấp vốn từ ngân sách. Khi năng lực tài chính được củng cố, các ngân hàng cũng có điều kiện hình thành các quỹ đầu tư cho vay lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo theo như tinh thần Nghị quyết 79. Qua đó hỗ trợ các doanh nghiệp tăng cường đầu tư cho khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.

Xin cảm ơn ông!

Hà Thành

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ