Việt Nam đặt mục tiêu vào nhóm 50 quốc gia dẫn đầu về Chính phủ số

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu vào nhóm 50 quốc gia dẫn đầu về Chính phủ số. Ảnh minh họa: Lê Hồng Nhung/Mekong ASEAN.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1266/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045.
Chiến lược xác định người dân và doanh nghiệp là trung tâm, đối tượng thụ hưởng chính của quá trình chuyển đổi số. Đồng thời, Việt Nam hướng tới xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI), làm chủ các công nghệ số, nền tảng số và sản phẩm số chiến lược, qua đó bảo đảm chủ quyền số quốc gia.
3 nhóm mục tiêu cụ thể của Chiến lược đến năm 2030
Nhóm mục tiêu về phát triển Chính phủ số: 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; 99% người dân, doanh nghiệp đánh giá hài lòng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến; 100% Bộ, ngành, địa phương sử dụng thống nhất, hiệu quả các nền tảng số dùng chung quốc gia phục vụ chỉ đạo, điều hành và cung cấp dịch vụ công.
Toàn bộ hệ thống thông tin được kết nối, chia sẻ dữ liệu qua dịch vụ chia sẻ dữ liệu; 100% cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia, ngành, lĩnh vực, cấp tỉnh được chuẩn hóa, kết nối, phân quyền và sẵn sàng khai thác cho AI; 100% trung tâm điều hành thông minh cấp tỉnh được nâng cấp theo hướng tích hợp AI phục vụ phân tích, dự báo, cảnh báo, giám sát và hỗ trợ ra quyết định; 100% cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan Nhà nước có hồ sơ điện tử theo quy định.
70% số chỉ tiêu thống kê thuộc các hệ thống chỉ tiêu thống kê được biên soạn từ nguồn dữ liệu hành chính; toàn bộ cán bộ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan Nhà nước được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng số; 100% cán bộ chuyên trách về chuyển đổi số, công nghệ thông tin được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật công nghệ số; 100% cán bộ, công chức, viên chức có tài khoản và được đào tạo sử dụng nền tảng trợ lý AI công vụ.
Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu trên thế giới về Chính phủ điện tử/Chính phủ số (theo báo cáo đánh giá của Liên Hợp Quốc).
Nhóm mục tiêu về phát triển kinh tế số: Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; hỗ trợ ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; phát triển và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu; tỷ trọng doanh thu thương mại điện tử so với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt từ 15 - 17%.
Phấn đấu đạt 45% số doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực thương mại tham gia các sàn thương mại điện tử lớn trong và ngoài nước; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP; trên 40% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận, sử dụng nền tảng "mô hình như một dịch vụ", tác nhân AI hoặc giải pháp AI dùng chung.
Nhóm mục tiêu về phát triển xã hội số: Hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ 100% hộ gia đình; tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác đạt tối thiểu 95%; tỷ lệ dân số từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân đạt trên 70%. Phấn đấu tỷ lệ người dân được lập sổ sức khỏe điện tử đạt 100%; đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng số cơ bản cho tối thiểu 10.000.000 lượt người trong độ tuổi lao động.
Tầm nhìn đến năm 2045, chiến lược đặt mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia số phát triển, an toàn, nhân văn; chuyển đổi số được triển khai toàn diện, đồng bộ, trở thành phương thức phát triển chủ đạo, động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của người dân.
Một số nhiệm vụ, giải pháp
Để đạt được các mục tiêu trên, Chiến lược đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp như hoàn thiện thể chế số; phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số dùng chung; phát triển nhân lực số; doanh nghiệp công nghệ số; tăng cường hợp tác quốc tế.
Về phát triển dữ liệu số và nền tảng số dùng chung, chiến lược xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, là nền tảng vận hành của Chính phủ số, động lực của kinh tế số và nguồn lực phát triển xã hội số. Việt Nam sẽ thiết lập phương thức quản trị dữ liệu quốc gia thống nhất, bảo đảm dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống", thống nhất, dùng chung, được bảo vệ an toàn và khai thác hiệu quả.
Chiến lược cũng đặt mục tiêu xây dựng, hoàn thiện, kết nối và chia sẻ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và địa phương, tiến tới hình thành cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia có tích hợp và ứng dụng AI để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Các lĩnh vực dữ liệu ưu tiên gồm dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, lao động, an sinh xã hội, cán bộ, công chức, viên chức, giao thông, tài nguyên và môi trường.
Đối với các nền tảng số dùng chung, chiến lược tiếp tục phát triển các nền tảng quốc gia có tích hợp AI phục vụ chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công và thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số. Các nền tảng ưu tiên gồm nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu; định danh và xác thực điện tử; thanh toán số; bản đồ số; điều hành, báo cáo, giám sát; trợ lý số và AI dùng chung; dữ liệu mở; cùng các nền tảng phục vụ y tế số, giáo dục số, thương mại số, logistics số, nông nghiệp số, du lịch số, đô thị thông minh và các lĩnh vực trọng điểm khác.
Ưu tiên hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số ‘Make in Viet Nam’
Về phát triển doanh nghiệp công nghệ số, chiến lược đặt mục tiêu xây dựng các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt trong tiếp thu, làm chủ, phát triển và ứng dụng công nghệ số, góp phần giải quyết các bài toán lớn của chuyển đổi số quốc gia, nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Doanh nghiệp công nghệ số phải là lực lượng chủ lực trong phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công nghiệp công nghệ số và đưa công nghệ số vào mọi ngành, lĩnh vực, địa phương.
Chiến lược ưu tiên hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số "Make in Viet Nam" có năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, với hạt nhân là các doanh nghiệp phát triển nền tảng số, dữ liệu, AI, an toàn thông tin mạng, điện toán đám mây, bán dẫn, phần mềm, nội dung số và các giải pháp chuyển đổi số theo từng ngành, lĩnh vực.
Đồng thời, phát huy vai trò của Nhà nước với tư cách là thị trường lớn và khách hàng quan trọng của doanh nghiệp công nghệ số. Thông qua cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, mua sắm công, thuê dịch vụ công nghệ số, thử nghiệm có kiểm soát và ưu tiên ứng dụng trong các bài toán lớn của quốc gia, Nhà nước sẽ tạo không gian thử nghiệm và thị trường ban đầu cho các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trong nước, đặc biệt ở các lĩnh vực như dịch vụ công trực tuyến, nền tảng số dùng chung, cơ sở dữ liệu dùng chung, an toàn thông tin mạng, y tế số, giáo dục số, thanh toán số và quản trị số.
Hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn, bảo mật, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Đồng thời, khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao và các Bộ, ngành, địa phương để hình thành chuỗi giá trị công nghệ số trong nước, tăng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong sản phẩm, dịch vụ số.
Hà Anh
Theo Cổng TTĐT Chính phủ
6 giờ trước
13 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
4 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
8 ngày trước
2 giờ trước
1 giờ trước
30 phút trước
11 phút trước
32 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước