🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Việt Nam chuẩn bị tần số cho 6G, UAV và đường sắt tốc độ cao

1 giờ trước
Tại hội thảo 'Tần số cho công nghệ chiến lược' được tổ chức sáng 30/6, Cục Tần số vô tuyến điện (Bộ Khoa học và Công nghệ) cùng các diễn giả trong nước và quốc tế đặt ra ba bài toán quy hoạch then chốt cho 6G, phương tiện bay không người lái UAV và đường sắt tốc độ cao, khi tần số trở thành yếu tố phải chuẩn bị từ trước chứ không đi sau khi công nghệ đã triển khai.

Toàn cảnh hội thảo tần số cho công nghệ chiến lược do Cục Tần số vô tuyến điện tổ chức sáng 30/6

Sáng 30/6, Cục Tần số vô tuyến điện tổ chức hội thảo "Tần số cho công nghệ chiến lược" với sự tham dự của lãnh đạo và đại biểu đến từ Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Xây dựng, Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam và nhiều doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

Phát biểu khai mạc, TS. Lê Văn Tuấn, Cục trưởng Cục Tần số vô tuyến điện, nhấn mạnh công nghệ chiến lược được xác định là động lực tăng trưởng mới, nền tảng nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm độc lập tự chủ về công nghệ. Trong danh mục công nghệ chiến lược vừa được ban hành có thông tin di động 6G, phương tiện bay không người lái UAV và hệ thống đường sắt tốc độ cao. Điểm chung của ba công nghệ này là đều cần sử dụng tài nguyên tần số vô tuyến điện, và đây chính là lý do hội thảo được tổ chức.

TS. Lê Văn Tuấn, Cục trưởng Cục Tần số vô tuyến điện, Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu khai mạc

Tần số phải đi trước công nghệ một bước

Báo cáo tổng quan của Cục Tần số vô tuyến điện do TS. Lương Xuân Trường, Phó Trưởng phòng Chính sách Quy hoạch, trình bày đặt ra quan điểm xuyên suốt, đó là tần số luôn là yếu tố cần thiết phải được chuẩn bị từ trước, chứ không phải thứ đi sau khi công nghệ đã được triển khai. Có chuẩn bị sớm thì các công nghệ mới mới được định hướng, dẫn dắt và phát triển phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

TS. Lương Xuân Trường cho biết, chặng đường phát triển 5G để lại bài học rõ nhất khi ngay từ đầu năm 2020 Cục đã xác định đây là nhiệm vụ quan trọng và bắt tay đầu tư nghiên cứu, phát triển cùng quy hoạch tần số trong tổng thể hạ tầng số quốc gia, để rồi đến năm 2024 khi Việt Nam đấu giá thành công thì lượng tần số đấu giá đã tăng gấp hai lần từ 340 MHz lên 680 MHz, kéo theo tốc độ di động tăng trưởng gấp 4,5 lần và đưa thứ hạng tăng từ vị trí 52 lên 19 trong bảng xếp hạng các quốc gia, và chính những con số ấy trở thành kinh nghiệm quý giúp Cục chuẩn bị quy hoạch tần số cho các công nghệ thế hệ tiếp theo.

TS. Lương Xuân Trường, Phó Trưởng phòng Chính sách Quy hoạch, Cục Tần số vô tuyến điện, Bộ Khoa học và Công nghệ

Từ thực tế đó, Cục rút ra hai điểm mấu chốt khi một mặt việc quy hoạch phải đúng, đa dạng và trúng thời điểm để hài hòa với các công nghệ đang nghiên cứu phát triển, mặt khác tần số cũng phải được thiết kế sao cho bảo đảm đủ băng thông giúp mỗi nhà mạng khai thác hiệu quả, TS. Lương Xuân Trường nói thêm.

Một góc nhìn mới được TS. Yongseok Seo, chuyên gia tư vấn của Liên minh Phổ tần Động DSA, mang tới hội thảo qua bài tham luận về phân bổ tần số động, được giới thiệu như cách tiếp cận cho kỷ nguyên mới. Cách phân bổ động gợi mở khả năng dùng chung và chia sẻ phổ tần linh hoạt hơn, thay vì cấp phát cố định như cách làm truyền thống, qua đó nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên vốn ngày càng khan hiếm.

TS. Yongseok Seo, chuyên gia tư vấn của Liên minh Phổ tần Động DSA

6G và bài toán nhu cầu tần số ngày càng lớn

Nhu cầu băng thông cho thông tin di động lớn dần qua từng thế hệ khi Việt Nam xác định mỗi nhà mạng cần từ 80 đến 100 MHz trong giai đoạn đầu phát triển 5G, rồi sẽ lên tới 200 MHz ở giai đoạn 5G Advanced và chạm mốc 400 MHz cho mỗi nhà mạng khi bước sang 6G, kéo theo bài toán đặt ra mức phí hợp lý để nhà mạng có đủ nguồn lực tiếp tục phát triển, đồng thời cần những chính sách bảo đảm các mục tiêu được thực hiện đồng bộ.

Theo TS. Lương Xuân Trường, Cục đã chuẩn bị công tác quy hoạch cho 5G Advanced và 6G từ rất sớm khi ngay trong năm 2025 tham mưu trình quy hoạch phổ tần số quốc gia và bước đầu định hướng những nhóm băng tần đầu tiên cho thế hệ tiếp theo, gồm toàn bộ băng tần 600 MHz sau khi hoàn thành công tác chuyển đổi, phần cao của băng 700 MHz, cùng việc giải phóng phần còn lại của băng C để có được khoảng 600 MHz liên tục, cộng thêm 100 MHz từ băng 2.6 GHz, qua đó nâng tổng lượng tần số lên khoảng 700 MHz, đủ để phát triển đầy đủ cho 5G Advanced và làm bước đệm cho 6G.

Ông Đặng Đạt, phụ trách Giải pháp Mạng của Ericsson Việt Nam chia sẻ tại Hội thảo

Xu hướng quốc tế được ông Đặng Đạt, phụ trách Giải pháp Mạng của Ericsson Việt Nam, làm rõ qua bài tham luận về xu hướng băng tần toàn cầu cho 6G và Hội nghị Vô tuyến thế giới WRC-27, theo đó việc lựa chọn băng tần cho 6G đang là chủ đề được cả thế giới theo dõi và gắn liền với chương trình nghị sự AI 1.7 của WRC-27, tại đó các quốc gia sẽ định hình những băng tần tiềm năng cho thế hệ di động kế tiếp, và đây cũng chính là cơ sở để Việt Nam hình thành quan điểm chính thức khi tham gia hội nghị.

Ở góc độ nhà mạng, ông Nguyễn Quốc Khánh, Phó Trưởng ban Công nghệ VNPT, đi từ usecase đến nhu cầu phổ tần, cho thấy nhu cầu tần số của 6G không thể tách rời các tình huống ứng dụng thực tế. Chính những dịch vụ mới sẽ quyết định lượng phổ tần cần thiết, thay vì quy hoạch theo cảm tính.

Tại phiên thảo luận, lãnh đạo Cục Tần số vô tuyến điện cho biết 6G còn được tính đến băng tần upper 6 GHz và xa hơn là băng 7 đến 8 GHz mà cả thế giới đang vận động nghiên cứu. So với các quốc gia phát triển, Việt Nam đã có lượng tần số tương đối trong tay, nhưng vẫn cần thêm tới khoảng 3.000 MHz nên buộc phải chuẩn bị phương án từ bây giờ. Với những băng tần mới này, các doanh nghiệp cùng được đề nghị đánh giá tác động, xem xét ảnh hưởng tới các hệ thống khác như vệ tinh và chi phí giải phóng mặt bằng.

Ông Nguyễn Quốc Khánh, Phó Trưởng ban Công nghệ VNPT chia sẻ.

TS. Lương Xuân Trường chỉ ra những thách thức đi kèm khi trước hết Cục phải dự báo chính xác nhu cầu tần số cho 6G, hiện ước tính từ 200 đến 400 MHz mỗi nhà mạng nên kéo theo lượng băng tần cần chuẩn bị rất lớn. Tiếp đó lộ trình quy hoạch phải bám sát mức độ sẵn sàng triển khai và quá trình tiêu chuẩn hóa sao cho không đưa ra quá sớm khi thiết bị thương mại chưa có nhưng cũng không quá muộn khi tiêu chuẩn đã chín. Điểm mới nổi bật là lần đầu tiên mạng di động xuất hiện thành phần phi mặt đất kết nối trực tiếp tới thiết bị đầu cuối người dùng từ các nền tảng trên cao như UAV hay vệ tinh, buộc Cục phải xây dựng chính sách và quy hoạch tần số riêng để vừa thúc đẩy phát triển vừa sử dụng hài hòa với các thành phần khác.

UAV và nền tảng cho kinh tế tầm thấp

Nhu cầu sử dụng phương tiện bay không người lái UAV đang xuất hiện ngày càng rõ trong nước, điển hình như các mô hình thử nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua. Ứng dụng đã lan tỏa từ logistic sang nông nghiệp, đo đạc bản đồ, đặt ra yêu cầu sớm có khung tần số phù hợp để hạ tầng UAV phát triển không chỉ trong giai đoạn thử nghiệm mà còn hướng tới vận hành trên diện rộng trong tương lai.

Ứng dụng thực tế được ông Đặng Hải Long, Giám đốc dự án UAV của VNPost, chia sẻ qua bài tham luận về UAV logistic phục vụ phát triển kinh tế tầm thấp, cho thấy phương tiện bay đã bắt đầu được tính tới trong khâu vận chuyển hàng hóa. Trong khi đó, ông Vũ Đức Nghĩa từ Trung tâm Vô tuyến băng rộng thuộc Tổng công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel cùng phân tích bài toán kết nối, điều khiển và giám sát từ góc nhìn UAV, ba trụ cột kỹ thuật quyết định một thiết bị bay có vận hành an toàn và hiệu quả hay không.

Ông Đặng Hải Long, Giám đốc dự án UAV của VNPost chia sẻ tại Hội Thảo

Theo TS. Lương Xuân Trường, Cục phân tần số cho UAV thành ba nhóm ứng dụng, trong đó nhóm thứ nhất nằm ở khu vực phổ miễn cấp phép mà Việt Nam đã cho phép, mang ưu điểm dùng chung linh hoạt nhưng phạm vi liên lạc gần, dễ tắc nghẽn khi mật độ cao và công suất bị hạn chế. Nhóm thứ hai tận dụng hạ tầng mạng 4G, 5G sẵn có nên triển khai nhanh, song việc phối hợp giữa các nhà mạng và tạo lập hành lang an toàn bay vẫn là vấn đề Cục phải tìm lời giải. Nhóm thứ ba dành cho các ứng dụng mạnh hơn đòi hỏi độ bảo mật cao và tầm điều khiển xa, là hướng mà nhiều quốc gia đã tính đến và một số nước đã có phân bổ riêng.

Song song với tần số dành cho UAV nói chung, Cục còn phải quy hoạch tần số cho các điểm cất hạ cánh, trung tâm điều khiển và giám sát an toàn bay, đồng thời cân nhắc vai trò của tần số trong hệ thống thông tin liên quan. Ông Trần Thiên Phương, Phó Chủ tịch Mạng lưới Hàng không vũ trụ UAV kiêm CEO Mismart, xem việc bảo đảm phổ tần an toàn và ổn định cho vận hành UAV như một bài toán riêng, bởi mức độ an toàn của cả hệ thống phụ thuộc trực tiếp vào việc phổ tần có ổn định hay không.

Ông Vũ Đức Nghĩa, Tổng công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel chia sẻ tại Hội thảo.

Lãnh đạo Cục Tần số vô tuyến điện cho rằng UAV là công nghệ được khởi động sớm nhưng đến nay vẫn chưa có nhiều kết quả cụ thể, đồng thời cho biết UAV nông nghiệp đã bay phun thuốc ở miền Tây Nam Bộ từ nhiều năm nay và cuộc sống vẫn diễn ra dù chưa có chính sách đầy đủ, nhưng đến lúc cần làm theo hệ thống thì Cục không thể chậm hơn. Lãnh đạo Cục đặt vấn đề an toàn lên hàng đầu, bởi những thiết bị bay chở hàng ngày càng nặng và nếu rơi sẽ mất an toàn, nên tần số phục vụ an toàn bay phải được ưu tiên quy hoạch trước. Lãnh đạo Cục cho biết sẽ tổ chức một buổi làm việc riêng để lắng nghe yêu cầu từ thị trường và công nghiệp, từ đó sớm xây dựng chính sách chung về tần số cho UAV.

Đường sắt tốc độ cao và thách thức cấp phép tần số

Hệ thống thông tin phục vụ đường sắt tốc độ cao là một hệ thống phức tạp, vận hành ở vận tốc lớn và bắt buộc phải điều hành qua thông tin vô tuyến với yêu cầu sẵn sàng cao, phục vụ đồng thời ba mục đích là điều hành, an toàn chạy tàu và thông tin liên lạc cho hành khách. Cục đã có những bước đi đầu tiên, xây dựng dự thảo quy hoạch tần số cho hệ thống thông tin điều khiển và bảo đảm an toàn, với hai nhóm băng tần chính là 900 MHz và 1900 MHz, đều là những băng được hài hòa ở mức độ quốc tế và đã được các nhà sản xuất thiết bị có kinh nghiệm ban đầu. Dự thảo đang được gửi xin ý kiến các bộ ngành, doanh nghiệp và người dân, dự kiến ban hành ngay trong năm nay.

Ông Nguyễn Duy Lâm, Quản lý Sản phẩm Cấp cao của Huawei Việt Nam chia sẻ tại Hội thảo

Công nghệ vô tuyến cho đường sắt được ông Nguyễn Duy Lâm, Quản lý Sản phẩm Cấp cao của Huawei Việt Nam, trình bày qua bài tham luận về xu hướng công nghệ và băng tần đường sắt trên thế giới, mang tới kinh nghiệm quốc tế cho công tác quy hoạch trong nước. Ở chiều ngược lại, ông Phạm Duy Học, Giám đốc Kỹ thuật của VinSpeed, nêu nhu cầu sử dụng tần số vô tuyến điện cho đường sắt tốc độ cao từ góc độ đơn vị trực tiếp vận hành, gắn bài toán chính sách với thực tế khai thác.

Vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Khi sử dụng một số đoạn băng tần như 900 MHz, vốn đang tồn tại các hệ thống thu phí RFID hiện hữu, bài toán chia sẻ và phối hợp giữa trạm gốc của mạng đường sắt với các hệ thống đang vận hành phải được xử lý để bảo đảm an toàn cho cả hai.

Ông Phạm Duy Học, Giám đốc Kỹ thuật của VinSpeed

Cục trưởng Lê Văn Tuấn nêu một vướng mắc, đó là cách quản lý tần số khi các tuyến đường sắt cùng chạy về một ga trung tâm. Nếu mỗi tuyến do một đơn vị có giấy phép riêng, chẳng hạn VinSpeed có một giấy phép, Tổng công ty Đường sắt có giấy phép khác, mà cả hai đoàn tàu cùng chạy về ga Hà Nội, thì việc quản lý tần số giữa các giấy phép sẽ ra sao. Đây là vấn đề mà Cục đề nghị tham khảo kinh nghiệm triển khai của các quốc gia phát triển đường sắt tốc độ cao đi trước, và tổ chức một cuộc họp riêng với các doanh nghiệp cung cấp thiết bị để cùng bàn bạc và lắng nghe phương án cấp phép theo tuyến cũng như cách tính phí sao cho hợp lý nhất, tránh mức phí quá cao hoặc quá thấp đều không phù hợp.

Tổng kết hội thảo, Cục trưởng Lê Văn Tuấn đánh giá phiên thảo luận diễn ra sôi động và bám sát thực tiễn, với các doanh nghiệp như VinSpeed hay Mismart cùng đưa những bài toán thực sự của thị trường vào trình bày. Tinh thần chủ động đi trước được khẳng định, với tần số đường sắt khởi động từ năm 2025, định hướng 6G đã có trong quy hoạch quốc gia từ tháng 10, sớm hơn nhiều quốc gia vẫn đang bàn thảo.

Tuy vậy, lãnh đạo Cục lưu ý đi trước mới chỉ là khởi đầu, đến đích sớm mới là điều quan trọng, và để về đích vẫn còn nhiều việc phải làm. Trên cơ sở đó, hội thảo đề nghị các đại biểu tập trung vào ba nhóm vấn đề, gồm phân tích đặc thù và làm rõ nhu cầu phổ tần của từng loại hình công nghệ, đề xuất mô hình quản lý phù hợp với bối cảnh Việt Nam đáp ứng nhu cầu thị trường và kiểm soát tốt bài toán nhiễu hệ thống, cùng với việc xác định lộ trình thực hiện.

Những chia sẻ tại hội thảo sẽ là cơ sở để Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan quản lý hình thành chính sách tần số cho công nghệ chiến lược, tạo nền tảng để Việt Nam chủ động phát triển và hướng tới làm chủ các công nghệ này trong thời gian tới.

Đào Công

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ