🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Tháo gỡ 12 điểm nghẽn để khơi thông chuỗi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

2 giờ trước
Sau 18 tháng triển khai, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo chuyển biến quan trọng trong nhận thức và hành động về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, để những chủ trương lớn thực sự chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ và giá trị gia tăng cho nền kinh tế, yêu cầu đặt ra trong thời gian tới là phải tập trung tháo gỡ 12 điểm nghẽn xuyên suốt từ nghiên cứu đến thương mại hóa công nghệ đang tồn tại. Trong đó, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành đề xuất các giải pháp nhằm khơi thông hệ thống, tạo động lực để Nghị quyết 57 đi vào thực chất.

Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò đầu mối trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và phối hợp với các bộ, ngành khơi thông chuỗi đổi mới sáng tạo. Ảnh PV

Khơi thông chuỗi nghiên cứu từ gốc

Sau hơn một năm rưỡi triển khai Nghị quyết 57, nhiều cơ chế, chính sách mới đã được ban hành, góp phần tạo chuyển biến trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Song, kết quả bước đầu cũng cho thấy nhiều rào cản vẫn tồn tại, khiến quá trình hình thành và triển khai các nhiệm vụ khoa học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Qua rà soát sơ bộ có 12 điểm nghẽn cần tập trung xử lý trong thời gian tới. Điều đáng chú ý là 5 trong số đó nằm ngay ở "đầu chuỗi", bao gồm: Xác lập định hướng chiến lược; xác lập nhiệm vụ khoa học và công nghệ; xét duyệt, tài trợ; tổ chức thực hiện và nghiệm thu kết quả nghiên cứu. Đây là những khâu quyết định chất lượng của toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Trong nhóm nhiệm vụ này, Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành hoàn thiện nhiều cơ chế, chính sách quan trọng nhằm chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị theo kết quả; từ nghiên cứu theo khả năng sẵn có sang nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu phát triển của đất nước và nhu cầu của doanh nghiệp.

Một trong những hạn chế khác được chỉ ra là việc xác lập định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp còn thiếu; nhiều danh mục công nghệ ưu tiên được ban hành nhưng chưa được thống nhất, tiềm ẩn nguy cơ đầu tư dàn trải; vai trò của Tổng công trình sư quốc gia chưa được thể chế hóa đầy đủ. Bên cạnh đó, mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp vẫn chưa đủ chặt chẽ để hình thành các chuỗi nghiên cứu gắn với sản xuất.

Để khắc phục, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao là cơ quan đầu mối triển khai các nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế xác định và cập nhật danh mục công nghệ chiến lược; xây dựng cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp và các bộ, ngành; hoàn thiện quy định về Tổng công trình sư quốc gia, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu thể chế hóa mô hình liên kết giữa Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp trong các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia. Những giải pháp này đều hướng tới mục tiêu đưa nhu cầu của nền kinh tế trở thành điểm xuất phát của hoạt động nghiên cứu.

Học viên thạc sỹ ngành Công nghệ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội làm việc trong phòng thí nghiệm. Ảnh PV

Không chỉ ở khâu định hướng, quá trình hình thành nhiệm vụ khoa học cũng bộc lộ nhiều bất cập. Theo đánh giá, thời gian xác lập một nhiệm vụ nghiên cứu hiện vẫn kéo dài từ 6 đến 12 tháng; trong khi đó, những tổ chức, cá nhân chủ động phát hiện các bài toán mới từ thực tiễn lại chưa có cơ chế khuyến khích phù hợp. Doanh nghiệp - đối tượng trực tiếp ứng dụng kết quả nghiên cứu - cũng chưa tham gia đầy đủ ngay từ giai đoạn xây dựng nhiệm vụ.

Để tháo gỡ điểm nghẽn này, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì nghiên cứu cơ chế bảo vệ, khuyến khích đơn vị đề xuất ý tưởng ban đầu; xây dựng quy trình "một cửa" trên nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia nhằm rút ngắn thời gian xác lập nhiệm vụ xuống còn từ 1 đến 3 tháng. Cùng với đó là hoàn thiện cơ chế đặt hàng từ các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp; mở rộng quy mô Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia theo hướng tăng cường đồng tài trợ với khu vực tư nhân và các quỹ quốc tế.

Theo phương án đề xuất, việc đổi mới sẽ không dừng ở khâu hình thành nhiệm vụ mà tiếp tục được thực hiện trong toàn bộ quá trình tổ chức nghiên cứu. Những hạn chế như: Hội đồng thẩm định thiếu chuyên gia đầu ngành, cơ chế đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp chưa rõ nét, kinh phí phân tán, giải ngân chậm hay phương thức quản lý còn nặng về thủ tục hành chính đều được đưa vào nhóm vấn đề cần xử lý. Đồng thời, việc nghiệm thu kết quả nghiên cứu cũng được yêu cầu chuyển mạnh từ đánh giá theo quy trình sang đánh giá theo hiệu quả ứng dụng và khả năng thương mại hóa.

Để thực hiện mục tiêu đó, Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm chính trong việc hoàn thiện cơ chế khoán chi toàn diện; cập nhật định mức chi cho nhân lực khoa học; xây dựng hệ thống quản lý tiến độ nghiên cứu trên nền tảng số; nghiên cứu cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học; bổ sung các tiêu chí đánh giá về mức độ ứng dụng, khả năng thương mại hóa và hiệu quả kinh tế - xã hội trong quá trình nghiệm thu. Cùng với đó là xây dựng Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm chia sẻ dữ liệu, tránh đầu tư trùng lặp và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nghiên cứu.

Có thể thấy, 5 điểm nghẽn này, tuy nằm ở những khâu khác nhau nhưng đều hướng tới một mục tiêu chung là xây dựng một chuỗi nghiên cứu thông suốt, trong đó các nhiệm vụ khoa học được hình thành từ yêu cầu phát triển, được triển khai theo cơ chế linh hoạt và được đánh giá dựa trên giá trị mang lại cho phát triển kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, một chuỗi nghiên cứu hiệu quả mới chỉ là điều kiện cần. Để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển, những kết quả nghiên cứu còn phải vượt qua nhiều rào cản trên con đường đi vào thực tiễn.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh tham quan gian hàng Mobifone tại Techfest Hải Phòng 2025. Ảnh PV

Hoàn thiện hệ sinh thái để công nghệ đi đến thị trường

Sau khi một nhiệm vụ khoa học được nghiệm thu, hành trình của kết quả nghiên cứu vẫn chưa kết thúc. Để trở thành sản phẩm có giá trị, công nghệ phải được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, định giá, chuyển giao, tiếp cận doanh nghiệp và thị trường. Đây cũng là giai đoạn tập trung 7 điểm nghẽn còn lại trong chuỗi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khơi thông quá trình thương mại hóa công nghệ.

Thực tế cho thấy, đây cũng là khâu còn nhiều vướng mắc nhất. Không ít kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu vẫn gặp khó khăn trong quá trình đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, định giá tài sản trí tuệ, tìm kiếm doanh nghiệp tiếp nhận hoặc tiếp cận nguồn vốn để thương mại hóa. Cùng với đó, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, từ thị trường khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đến hạ tầng nghiên cứu và các cơ chế hỗ trợ phát triển công nghệ, vẫn còn thiếu sự kết nối đồng bộ.

Theo phân công, Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hoàn thiện nhiều cơ chế, chính sách nhằm khơi thông những điểm nghẽn này. Mục tiêu không chỉ là nâng cao hiệu quả của từng khâu riêng lẻ mà còn hình thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh để kết quả nghiên cứu có thể đi trọn hành trình từ phòng thí nghiệm đến thị trường.

Một trong những nội dung được ưu tiên là hoàn thiện cơ chế về sở hữu trí tuệ và định giá tài sản trí tuệ. Theo đánh giá, thời gian xử lý đơn đăng ký sở hữu trí tuệ ở một số lĩnh vực công nghệ mới còn kéo dài; phương pháp định giá tài sản trí tuệ chưa thống nhất; cơ sở dữ liệu và đội ngũ chuyên gia còn thiếu. Điều này khiến nhiều kết quả nghiên cứu dù có tiềm năng vẫn gặp khó khăn trong chuyển giao công nghệ hoặc huy động nguồn lực đầu tư.

Để khắc phục, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý về định giá tài sản trí tuệ; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giao dịch tài sản trí tuệ; nâng cao năng lực thẩm định sở hữu trí tuệ và đào tạo đội ngũ chuyên gia. Đồng thời, Bộ cũng nghiên cứu cơ chế bảo đảm an toàn pháp lý đối với cán bộ thực hiện đúng quy định trong quá trình định giá tài sản trí tuệ. Những giải pháp này hướng tới mục tiêu giúp kết quả nghiên cứu được bảo hộ kịp thời, xác lập giá trị và thuận lợi hơn trong quá trình thương mại hóa.

Bên cạnh đó, việc phát triển thị trường khoa học và công nghệ cũng được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ chủ trì phát triển nền tảng giao dịch công nghệ số quốc gia; xây dựng đội ngũ môi giới công nghệ chuyên nghiệp; tăng cường kết nối giữa các tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà đầu tư; đồng thời gắn hoạt động của thị trường công nghệ với các chương trình đặt hàng và mua sắm công của Nhà nước. Đây được kỳ vọng sẽ là cầu nối giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, tạo điều kiện để công nghệ nhanh chóng được ứng dụng vào thực tiễn.

Nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh PV

Song song với đó là các giải pháp phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và hạ tầng đổi mới sáng tạo. Theo phương án đề xuất, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế đối với doanh nghiệp spin-off từ viện nghiên cứu, trường đại học; nghiên cứu cơ chế đầu tư đối ứng giữa Nhà nước và khu vực tư nhân; phát triển Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia; xây dựng mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo theo vùng; thúc đẩy chia sẻ phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu và thu hút chuyên gia trong, ngoài nước tham gia các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm. Bộ cũng tiếp tục được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu phương pháp xác định hàm lượng giá trị gia tăng trong nước đối với sản phẩm công nghệ; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới; nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) và cơ chế Nhà nước là khách hàng đầu tiên đối với các sản phẩm công nghệ mới. Đây được xem là những giải pháp quan trọng để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, làm chủ công nghệ và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghệ Việt Nam.

Có thể thấy, 12 điểm nghẽn được nhận diện không phải là những vấn đề tách rời mà tạo thành một chuỗi liên hoàn của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Xuyên suốt quá trình này, Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò đầu mối trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và phối hợp với các bộ, ngành khơi thông chuỗi đổi mới sáng tạo. Khi các giải pháp được triển khai đồng bộ, đây sẽ là nền tảng quan trọng để Nghị quyết 57 tạo ra những sản phẩm cụ thể, kết quả đo lường được và tác động thiết thực đối với phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.

Thu Hằng

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ