Sức thuyết phục của thông tin đối ngoại phải bắt đầu chất lượng câu chuyện
Bởi vậy, việc Bộ VHTTDL xây dựng thông tư mới về đăng, phát nội dung thông tin đối ngoại trên báo chí là yêu cầu cần thiết, nhằm tạo hành lang pháp lý phù hợp với bối cảnh mới.

Phóng viên báo chí tác nghiệp tại một sự kiện. Ảnh: LINH CHI
Thực tiễn đòi hỏi một khuôn khổ quản lý mới
Sau hơn bảy năm thực hiện, Thông tư số 03/2019/TT-BTTTT đã góp phần xác lập trách nhiệm, phương thức phối hợp và nền nếp tổ chức thông tin đối ngoại trên báo chí. Tuy nhiên, môi trường truyền thông đã thay đổi sâu sắc. Công chúng tiếp nhận thông tin qua nhiều nền tảng; sản phẩm báo chí được phân phối vượt khỏi giới hạn địa lý; trí tuệ nhân tạo tham gia vào quá trình sản xuất, chuyển ngữ. Cùng với những thay đổi về pháp luật và tổ chức bộ máy, thực tiễn ấy đòi hỏi một khuôn khổ quản lý mới, đủ rõ để thực hiện, đủ mở để khuyến khích sáng tạo.
Điểm đáng chú ý của dự thảo thông tư là tiếp cận thông tin đối ngoại trong không gian báo chí đa phương tiện, đa ngôn ngữ, gắn với quản trị và chia sẻ dữ liệu. Đây là hướng đi cần thiết. Khi một nội dung có thể đồng thời xuất hiện trên báo điện tử, truyền hình, mạng xã hội và các ứng dụng, hiệu quả truyền thông phụ thuộc vào khả năng tổ chức toàn bộ hành trình thông tin: Từ xác thực nguồn, sản xuất, biên tập đến phân phối và tiếp nhận. Thông tư mới cần tạo cơ sở cho hành trình ấy diễn ra thông suốt, an toàn, hiệu quả.
Trong hành trình đó, báo chí giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Báo chí cung cấp thông tin chính thức, giải thích chính sách, đưa tình hình thế giới đến công chúng trong nước, đồng thời kể câu chuyện Việt Nam với bạn bè quốc tế. Giá trị cốt lõi nằm ở năng lực tạo dựng sự tin cậy bằng thông tin chính xác, lập luận có căn cứ và cách thể hiện phù hợp. Trước những vấn đề phức tạp, báo chí càng cần giúp công chúng hiểu bản chất sự việc, nhận diện thông tin sai lệch và tiếp cận một Việt Nam chân thực, chủ động, có trách nhiệm.
Sức thuyết phục của thông tin đối ngoại bắt đầu từ chất lượng câu chuyện. Những thành tựu phát triển cần được thể hiện qua thay đổi cụ thể trong đời sống; chính sách cần được giải thích bằng tác động đối với con người; văn hóa cần được giới thiệu trong chiều sâu lịch sử và sức sống đương đại. Cách tiếp cận ấy đòi hỏi phóng viên am hiểu lĩnh vực, biên tập viên có khả năng đối thoại với công chúng khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa. Vì thế, chuyển ngữ phải đi cùng chuyển đổi cách kể, để thông tin đến đúng người và được hiểu đúng.
Điều kiện quyết định vẫn là con người và nguồn lực
Báo chí địa phương có lợi thế lớn trong việc cung cấp chất liệu cho những câu chuyện như vậy. Từ đời sống cộng đồng, hoạt động sản xuất đến bảo tồn di sản, mỗi địa phương đều chứa đựng những bằng chứng sinh động về đất nước. Với Huế, Hội An, Ninh Bình… câu chuyện di sản gắn với phát triển, văn hóa gắn với sinh kế, truyền thống gắn với sáng tạo có khả năng chạm đến mối quan tâm chung của công chúng quốc tế. Thông tư cần phát huy vai trò chủ động sản xuất của báo chí địa phương, đồng thời mở đường đưa nội dung có giá trị vào mạng lưới truyền thông rộng lớn hơn.
Muốn báo chí thực hiện tốt trách nhiệm, nguồn thông tin chính thức phải được cung cấp kịp thời. Báo cáo tổng kết đã chỉ ra những hạn chế về phối hợp, tiếp cận nguồn tin và xử lý thông tin đột xuất. Khi sự việc đang thu hút chú ý, chậm cung cấp dữ kiện có thể tạo khoảng trống cho suy diễn. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu kiểm chứng và đăng, phát, cần làm rõ đầu mối, phương thức cung cấp, cập nhật thông tin. Trách nhiệm của cơ quan báo chí phải gắn với trách nhiệm của cơ quan nắm giữ thông tin.
Tương tự, yêu cầu xây dựng hệ thống dữ liệu chỉ có ý nghĩa khi phục vụ thiết thực hoạt động báo chí. Kho tư liệu được chuẩn hóa, xác thực và chia sẻ thuận lợi sẽ giúp giảm trùng lặp, nâng chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, cần ưu tiên kế thừa hạ tầng hiện có, tăng khả năng kết nối, tránh đầu tư phân tán. Dữ liệu chia sẻ phải có nguồn gốc và thông tin bản quyền rõ ràng; tài liệu nội bộ, nguồn tin báo chí, dữ liệu cá nhân phải được bảo vệ. Quản trị tốt dữ liệu cũng là bảo vệ uy tín thông tin.
Trí tuệ nhân tạo mở thêm khả năng sản xuất và phân phối nội dung, nhất là dịch thuật, phụ đề, giọng đọc. Nhưng tốc độ công nghệ phải đi cùng trách nhiệm biên tập. Một thuật ngữ lịch sử dịch sai, một hình ảnh mô phỏng gây hiểu nhầm đều có thể ảnh hưởng đến thông điệp đối ngoại. Thông tư cần khuyến khích ứng dụng công nghệ trên nền tảng kiểm chứng của con người, tôn trọng bản quyền và bảo vệ dữ liệu. Điều kiện quyết định vẫn là con người và nguồn lực. Sản phẩm chuyên sâu, đa ngôn ngữ đòi hỏi kinh phí, năng lực ngoại ngữ, kiến thức quốc tế và kỹ năng số. Những nghĩa vụ mới cần đi cùng lộ trình, đào tạo và cơ chế đặt hàng phù hợp. Hiệu quả cũng cần được nhìn nhận qua chất lượng tiếp cận công chúng, mức độ thấu hiểu và giá trị lan tỏa. Số lượng tin, bài hay lượt xem chỉ phản ánh một phần kết quả.
Một thông tư phù hợp sẽ giúp thống nhất trách nhiệm, khơi thông phối hợp và tạo điều kiện để báo chí phát huy năng lực sáng tạo. Trong bối cảnh mới, mỗi sản phẩm thông tin đối ngoại cần góp thêm một nền tảng hiểu biết, một nhịp cầu tin cậy giữa Việt Nam với thế giới. Để làm được điều đó, hành lang pháp lý phải kết nối yêu cầu quản lý với thực tiễn nghề nghiệp, kết nối nhiệm vụ với nguồn lực. Khi báo chí kể câu chuyện đất nước bằng sự chính xác, chiều sâu và sức thuyết phục, hình ảnh Việt Nam sẽ có thêm sức lan tỏa bền vững.
Sức thuyết phục của thông tin đối ngoại bắt đầu từ chất lượng câu chuyện. Những thành tựu phát triển cần được thể hiện qua thay đổi cụ thể trong đời sống; chính sách cần được giải thích bằng tác động đối với con người; văn hóa cần được giới thiệu trong chiều sâu lịch sử và sức sống đương đại.
Cách tiếp cận ấy đòi hỏi phóng viên am hiểu lĩnh vực, biên tập viên có khả năng đối thoại với công chúng khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa. Vì thế, chuyển ngữ phải đi cùng chuyển đổi cách kể, để thông tin đến đúng người và được hiểu đúng.
TS PHAN THANH HẢI
13 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
19 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước