Sửa Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: Tái cấu trúc chính sách để tạo đột phá thực chất

Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng. Ảnh: VGP.
Góp ý Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng trong nhiều năm qua, công tác hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tại Việt Nam chủ yếu được triển khai dưới dạng các chương trình phân tán và độc lập.
Các chính sách hiện hành thường được thiết kế theo tư duy "sẵn có gì hỗ trợ nấy", dẫn đến tình trạng doanh nghiệp đăng ký phụ thuộc hoàn toàn vào thời điểm và tính sẵn có của nguồn lực công. Hệ quả là nguồn lực bị xé lẻ, hỗ trợ mang tính nhỏ giọt và hiệu quả thụ hưởng thực tế của cộng đồng doanh nghiệp chưa đạt như kỳ vọng.
CHUYỂN TỪ HỖ TRỢ DÀN TRẢI SANG “HỖ TRỢ CÓ MỤC TIÊU”
Tại Điều 5.6 của Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ quan soạn thảo đã đặt ra nguyên tắc khuyến khích triển khai toàn diện các hoạt động hỗ trợ để tạo tác động thực chất. Tuy nhiên, theo phân tích từ VCCI, hỗ trợ doanh nghiệp không thuần túy là giải pháp "cứu trợ" hay xử lý các khó khăn ngắn hạn, mà phải hướng tới mục tiêu dài hạn: nâng cao năng lực cạnh tranh cốt lõi và kiến tạo hệ sinh thái kinh doanh bền vững.
Để đạt được mục tiêu này, bên cạnh dải chính sách hỗ trợ diện rộng mang tính nền tảng, việc bổ sung cơ chế "hỗ trợ có mục tiêu" là một đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn. Cơ chế này vận hành theo nguyên tắc tập trung nguồn lực công vào các đối tượng trọng điểm có khả năng tạo động lực lan tỏa cho toàn nền kinh tế.
Cụ thể, Nhà nước sẽ chủ động lựa chọn các SME có tiềm năng phát triển bứt phá, như các doanh nghiệp có khả năng chuyển đổi thành tập đoàn lớn, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao hay kinh doanh xanh.
Đổi lại, những doanh nghiệp được lựa chọn sẽ hưởng quyền lợi ưu tiên tiếp cận đồng bộ cả chính sách hỗ trợ chung lẫn các gói hỗ trợ được "đo đóng giày" theo nhu cầu thực tế. Đồng thời, doanh nghiệp phải cam kết thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và đạt được các chỉ tiêu phát triển cụ thể do Nhà nước đề ra. Sự kết hợp giữa quyền lợi và trách nhiệm này sẽ loại bỏ cơ chế xin - cho, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách quốc gia.
KHƠI THÔNG DÒNG VỐN TÍN DỤNG
Tín dụng luôn là "dòng máu" duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, song lại là rào cản lớn nhất đối với đa số SME. Điều 8 Dự thảo Luật hiện quy định Nhà nước "khuyến khích" các tổ chức tín dụng, tài chính phát triển sản phẩm phù hợp cho SME. Tuy nhiên, thuật ngữ "khuyến khích" mang tính định hướng định tính, hoàn toàn thiếu chế tài hoặc các chính sách đòn bẩy kinh tế đủ mạnh để điều hướng dòng vốn thương mại chảy mạnh vào khu vực này.
Trên thực tế, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa từ lâu vẫn bị các ngân hàng xem là lĩnh vực rủi ro cao, chi phí quản lý lớn và tỷ suất lợi nhuận không hấp dẫn bằng các mảng cho vay bất động sản hay tiêu dùng. Nếu không có động lực tài chính đủ lớn, chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng sẽ chỉ dừng lại trên giấy.
VCCI đề xuất cơ quan soạn thảo cần đưa vào các công cụ đòn bẩy tài chính cụ thể. Đó là chính sách ưu đãi nguồn vốn tái cấp vốn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các tổ chức tín dụng mở rộng dư nợ cho SME, hoặc thành lập nguồn tín dụng ưu tiên, ổn định phục vụ sản xuất, xuất khẩu và công nghiệp hỗ trợ. Mức giá vốn và thời hạn cho vay phải đảm bảo độ dài tương ứng để doanh nghiệp chủ động dự báo chi phí trong suốt chu kỳ đơn hàng.
Bên cạnh đó, giải pháp then chốt nằm ở việc thay đổi tư duy thẩm định tín dụng. Cần chuyển dịch từ phương thức truyền thống (phụ thuộc nặng nề vào tài sản thế chấp là bất động sản) sang thẩm định dựa trên dòng tiền hạch toán, hợp đồng, đơn hàng, chất lượng khách hàng và lịch sử tuân thủ pháp luật.
Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế định giá, nhận tài sản bảo đảm đối với máy móc thiết bị, hàng tồn kho, nguyên vật liệu và phát triển mạnh mẽ dịch vụ tài trợ chuỗi cung ứng cho SME tham gia vào mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.
THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN MẶT BẰNG SẢN XUẤT
Mặt bằng sản xuất là yếu tố đầu vào tối quan trọng để doanh nghiệp ổn định hoạt động lâu dài. Các giải pháp tại Điều 10 Dự thảo đã thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc giúp SME tiếp cận quỹ đất chính thức. Dù vậy, để chính sách đi vào cuộc sống, việc đánh giá tác động và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan, đặc biệt là các chủ thể cung cấp mặt bằng cần được cân nhắc kỹ lưỡng.
Một bất cập lớn tại Điều 10.5 Dự thảo là quy định bắt buộc các khu, cụm công nghiệp mới thành lập (dù không nhận hỗ trợ ngân sách) vẫn phải dành không gian cho SME thuê trong vòng 2 năm. Quy định này can thiệp sâu vào quyền tự do kinh doanh và phá vỡ phương án tài chính của nhà đầu tư hạ tầng — những đơn vị phải tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư. Do đó, việc bỏ quy định mang tính áp đặt này là cần thiết để bảo vệ tính thượng tôn pháp luật và môi trường đầu tư.
Mặt khác, đối với cơ chế hỗ trợ tiền thuê đất tại Điều 10.6, quy định chủ đầu tư giảm giá thuê rồi xin Nhà nước hoàn trả từ ngân sách sẽ phát sinh nguy cơ thủ tục hành chính kéo dài, đọng vốn của nhà đầu tư. Thay vì thủ tục xin - cho phức tạp, VCCI đề xuất phương án cho phép chủ đầu tư khấu trừ trực tiếp khoản tiền hỗ trợ này vào các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, như thuế đất hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Đối với quỹ nhà, đất công chưa sử dụng (Điều 10.7), do đặc thù không gian kiến trúc công sở thường quá lớn hoặc không phù hợp với dây chuyền sản xuất, việc cho phép các tổ chức/doanh nghiệp tư nhân thuê lại để cải tạo thành không gian làm việc chung dành cho SME sẽ là hướng đi tối ưu.
Đồng thời, việc công khai quỹ đất công (Điều 10.8) cần được cập nhật liên tục ngay khi có biến động, thay vì định kỳ mỗi năm một lần, giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời cơ hội đầu tư.
Song Hà
2 ngày trước
4 ngày trước
24 phút trước
17 phút trước
58 phút trước
1 phút trước
2 phút trước
3 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
8 phút trước
8 phút trước
8 phút trước
9 phút trước
11 phút trước
13 phút trước
13 phút trước