Quốc hội bàn cơ chế xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế
Chiều 11-4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Đa số đại biểu tán thành với việc ban hành Nghị quyết
10 đại biểu tham gia thảo luận chiều nay, hầu hết các ý kiến đều nhất trí cao với việc Quốc hội ban hành Nghị quyết này.
Theo các đại biểu, Việt Nam là quốc gia có mức độ hội nhập sâu rộng, độ mở kinh tế cao. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia 64 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, cùng với 17 hiệp định thương mại tự do. Tất cả các văn bản này đều có nội dung cho phép nhà đầu tư nước ngoài có quyền khởi kiện Chính phủ, Nhà nước và các cơ quan nhà nước của Việt Nam.

ĐBQH Bùi Xuân Hải (Hải Phòng) phát biểu thảo luận chiều 11-4. Ảnh: QH
"Trong trường hợp chúng ta bị kiện và thua kiện, thiệt hại có thể lên đến hàng ngàn tỉ đồng, đồng thời ảnh hưởng đến môi trường đầu tư kinh doanh và uy tín của Chính phủ, Nhà nước Việt Nam"- đại biểu Bùi Xuân Hải (Hải Phòng) chia sẻ ông và nhiều đại biểu rất quan tâm đến việc ban hành cũng như nội dung cụ thể của Nghị quyết này.
Theo đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng), chúng ta đang bước vào một thế giới đầy biến động, với nhiều vấn đề mới phát sinh trong môi trường mở của các mối quan hệ quốc tế. Trong đó, hoạt động đầu tư và các tranh chấp đầu tư quốc tế đang trở thành thách thức đối với các quốc gia, chủ thể tham gia quan hệ này, trong đó có nước ta.
Từ thực tiễn bối cảnh đó, theo đại biểu tỉnh Lâm Đồng, việc ban hành Nghị quyết lần này là hết sức quan trọng.
"Đây là một bước hoàn thiện quan trọng trong khuôn khổ pháp lý của nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, với yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ lợi ích quốc gia. Đồng thời, bảo đảm môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và đáng tin cậy đối với các nhà đầu tư quốc tế”, ông nói.
Đề xuất mở rộng phạm vi điều chỉnh, chuyển trạng thái ứng phó
Đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Nai) cho biết ông đã nghiên cứu và thấy rằng việc xây dựng Nghị quyết này chủ yếu áp dụng trong trường hợp phía Việt Nam là bên bị kiện trong các tranh chấp đầu tư. Với cách tiếp cận như vậy, có thể thấy tinh thần của dự thảo đang thiên về "phòng ngừa và phòng thủ".
Tuy nhiên, dẫn các Nghị quyết số 66, 59 và 63, cũng như thực tiễn triển khai trong nhiều năm qua và căn cứ pháp lý là Quyết định số 14 của Thủ tướng, ông Trịnh Xuân An cho rằng với xu hướng hiện nay, chúng ta cần chuyển trạng thái từ “phòng ngừa, phòng thủ” sang “ứng phó và chủ động”, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và lợi ích của dân tộc.

Đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Nai) nêu ý kiến góp ý cho dự thảo Nghị quyết. Ảnh: QH
Ông Trịnh Xuân An đề nghị cần đánh giá nghiên cứu kỹ lại phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết này và xem xét mở rộng phạm vi trong một số nội dung. Thứ nhất, đối với trường hợp cơ quan nhà nước Việt Nam chủ động khởi kiện hoặc phản tố nhà đầu tư nước ngoài trong các tranh chấp đầu tư, hợp đồng đầu tư.
Thứ hai, cần mở rộng phạm vi đối với việc hỗ trợ bên thứ ba, thường là các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài nhưng bị liên quan, bị lôi kéo vào các vụ kiện.
“Thực tế đã có những trường hợp doanh nghiệp của ta bị vạ lây, qua đó có thể dẫn đến nguy cơ ảnh hưởng tài sản doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài”, đại biểu dẫn chứng và nhấn mạnh đây là vấn đề rất đáng quan tâm, cần được nghiên cứu để bổ sung vào phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết.
Bên cạnh đó, đại biểu đoàn Đồng Nai cũng nhận xét dự thảo hiện mới tập trung vào giai đoạn trước và trong khi xảy ra tranh chấp, nhưng chưa có cơ chế cho giai đoạn sau khi giải quyết tranh chấp.
"Sau khi giải quyết tranh chấp, nếu chúng ta thắng thì không sao, nhưng nếu thua thì sẽ liên quan đến tài sản, trách nhiệm và nhiều hệ quả pháp lý khác", ông nói.
Do vậy, đại biểu Trịnh Xuân An cho rằng khi đã trình Quốc hội một Nghị quyết có nội dung lớn như vậy, cần thiết kế cơ chế và phạm vi đủ rộng để có thể xử lý các tình huống thực tiễn.
Về kỹ thuật lập pháp, đại biểu Trịnh Xuân An cho rằng Chương II và Chương III của dự thảo đang quy định về cơ chế phối hợp, trong đó cần làm rõ vai trò cơ quan chủ trì, cơ quan chịu trách nhiệm chính và cơ quan phối hợp.
Cũng theo đại biểu, nhiều nội dung tại hai chương này mang tính nghiệp vụ cụ thể như thành lập đoàn công tác, thuê luật sư… là những việc Chính phủ hoàn toàn có thể quy định, không nên đưa vào Nghị quyết của Quốc hội. Do đó, đại biểu đề nghị Nghị quyết chỉ quy định các nguyên tắc chung về phối hợp, còn nội dung cụ thể giao Chính phủ hướng dẫn thực hiện.
Liên quan Điều 12 về cơ quan chủ trì, đại biểu Trịnh Xuân An đồng tình với một số ý kiến đã nêu và nhấn mạnh vai trò quan trọng của Bộ Tư pháp. Theo đại biểu, với chức năng, nhiệm vụ hiện nay, Bộ Tư pháp hoàn toàn có thể đảm nhận vai trò cơ quan chủ trì. Vì vậy, cần xác định rõ một cơ quan chủ trì thống nhất để bảo đảm tính khả thi, tránh khó khăn trong xác định trách nhiệm khi triển khai thực tế.
NHÓM PHÓNG VIÊN
55 phút trước
55 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
43 phút trước
6 phút trước
27 phút trước
Vừa xong
9 phút trước
10 phút trước
11 phút trước
37 phút trước