🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao

1 giờ trước
Chiều 7/8, tại Hà Nội, Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức Tọa đàm “Nghị quyết 10: Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao”, tập trung làm rõ những tư duy mới, định hướng lớn và các giải pháp nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Các khách mời tham dự tọa đàm (từ trái sang): Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam; bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính; ông Lê Quang Hoà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên; Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, điều phối chương trình. (Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc)

Tọa đàm tập trung thảo luận 4 câu hỏi lớn: Vì sao Việt Nam phải thay đổi tư duy về FDI? Việt Nam đang lựa chọn mô hình FDI nào? FDI phải tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế Việt Nam? Điều gì quyết định thành công của Nghị quyết 10?

Tham dự tọa đàm có ông Lê Quang Hòa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên; ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính; ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam. Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội điều phối chương trình.

Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính.

Chuyển từ "thu hút FDI" sang "phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài"

Dưới góc độ quản lý, theo bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, Nghị quyết 10 thể hiện 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển.

Trước hết là chuyển từ tư duy “thu hút đầu tư nước ngoài” sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, với cách tiếp cận toàn diện hơn, bao gồm đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn và các thiết chế tài chính quốc tế, đồng thời xác định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hợp thành hữu cơ của nền kinh tế quốc dân.

Cùng với đó là chuyển từ coi trọng quy mô, số lượng vốn sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Thứ ba là thay đổi tư duy ưu đãi đầu tư theo hướng gắn ưu đãi với kết quả đầu ra, mức độ lan tỏa, công nghệ hiện đại và khả năng chuyển giao công nghệ. Thứ tư là chuyển từ thu hút những dự án FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ một hệ sinh thái kết nối các dòng vốn quốc tế.

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.

Một thay đổi quan trọng khác là chuyển từ tư duy “quản lý đầu tư” sang “kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh”. Theo đó, bên cạnh yêu cầu tuân thủ pháp luật, Nhà nước cần chuẩn bị tốt hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường kinh doanh, năng lực quản trị và thể chế để nâng cao khả năng hấp thụ các dòng vốn chất lượng cao.

Theo ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, điểm đáng chú ý trong tư duy mới là cách tiếp cận bài bản, hệ thống, sâu sắc và thực tiễn hơn. Muốn FDI tạo ra tác động lan tỏa thực chất, điều quan trọng không chỉ là lựa chọn được dòng vốn tốt mà còn phải nâng cao “năng lực hấp thụ” của nền kinh tế, đặc biệt là năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước Việc nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam vừa giúp tăng khả năng liên kết với khu vực FDI, vừa góp phần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

FDI chất lượng cao phải giúp doanh nghiệp Việt Nam cùng lớn lên

Một nội dung được các đại biểu đặc biệt quan tâm là mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Theo bà Bùi Thu Thủy, sau 40 năm phát triển, dù khu vực FDI đã mang lại nhiều kết quả tích cực nhưng khoảng cách về năng lực giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn lớn. Phần lớn doanh nghiệp trong nước có quy mô nhỏ và vừa, hạn chế về vốn, công nghệ, quản trị; số doanh nghiệp đủ năng lực sẵn sàng tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI chưa nhiều.

Trong khi đó, các doanh nghiệp FDI thường có hệ sinh thái nhà cung cấp quen thuộc đi cùng khi đầu tư sang Việt Nam. Việc chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn FDI ra bên ngoài doanh nghiệp cũng còn hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu phải có những chính sách đủ mạnh để đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam và tạo động lực để doanh nghiệp FDI tăng cường sử dụng nhà cung ứng trong nước.

Ông Lê Quang Hoà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc)

Thông điệp của Nghị quyết 10-NQ/TW, theo đại diện Bộ Tài chính, là xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Thành công của doanh nghiệp FDI cũng là một phần trong kết quả phát triển kinh tế của đất nước. Nhà nước, nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước cần được xác định rõ vai trò, trách nhiệm; trong đó, Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, chuẩn bị hạ tầng chiến lược và nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng lực hấp thụ FDI chất lượng cao.

Từ thực tiễn địa phương, ông Lê Quang Hoà cho biết, Hưng Yên đang hướng tới xây dựng các khu công nghiệp theo mô hình hệ sinh thái, trong đó không chỉ có doanh nghiệp nước ngoài mà tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam cùng lĩnh vực, ngành nghề tham gia, từng bước tiếp cận chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế.

Hưng Yên xác định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt quyết định năng lực hấp thụ vốn FDI. Nguồn nhân lực ở đây không chỉ dừng lại ở lực lượng lao động phục vụ doanh nghiệp FDI, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực quản trị công của hệ thống chính trị. Địa phương xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm và sẽ ban hành nhiều cơ chế, chính sách đồng bộ nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm cả nhân lực quản trị nhà nước và hạ tầng nhân lực kỹ thuật đáp ứng đúng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới.

Nhà đầu tư dài hạn cần môi trường minh bạch, ổn định và có thể dự báo

Đại diện cho doanh nghiệp FDI, ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam cho rằng, những yếu tố từng tạo nên thành công trong quá khứ chưa chắc bảo đảm thành công trong tương lai. Trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam cần hướng tới những cam kết đầu tư dài hạn, bền vững và bao trùm hơn.

Theo ông Binu Jacob, ưu đãi không còn là yếu tố quyết định duy nhất đối với các tập đoàn đa quốc gia, nhất là trong bối cảnh áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu. Đối với nhà đầu tư dài hạn, điều quan trọng là niềm tin vào định hướng chiến lược của Chính phủ, một khuôn khổ chính sách minh bạch và có thể dự báo, nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ đủ mạnh.

Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam.

Các chính sách có thể thay đổi trong quá trình phát triển, song nhà đầu tư cần nhìn thấy được lộ trình thay đổi. Sự thiếu chắc chắn và những thay đổi khó dự báo là một trong những vấn đề mà các nhà đầu tư dài hạn quan tâm. Đồng thời, sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước, cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu cần tiếp tục được củng cố.

Từ kinh nghiệm thực tế của Nestlé, ông Binu Jacob cho rằng, sự lan tỏa của FDI không chỉ thể hiện ở vốn đầu tư mà còn ở quá trình chia sẻ phương pháp quản trị, quy trình kiểm soát chất lượng, công nghệ, kỹ năng và tri thức cho các đối tác trong nước.

Nâng cao “năng lực hấp thụ” của nền kinh tế và doanh nghiệp Việt

Theo ông Phan Đức Hiếu, khi chuyển từ tư duy thu hút FDI ở từng khâu riêng lẻ sang phát triển một hệ sinh thái FDI, yêu cầu ưu tiên hàng đầu là cải cách thể chế phải đồng bộ, đồng thời và kịp thời. Không thể có tình trạng bộ, ngành này cải cách nhưng bộ, ngành khác chưa theo kịp, hay Trung ương và địa phương triển khai không đồng bộ.

Vấn đề thứ hai là nâng cao “năng lực hấp thụ” của nền kinh tế và doanh nghiệp Việt Nam. Mục tiêu cần được nhìn nhận ở ba cấp độ: Đủ năng lực tiếp nhận FDI chất lượng cao; qua đó nâng cao nội lực của doanh nghiệp và nền kinh tế; xa hơn là hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu do doanh nghiệp Việt Nam từng bước vươn lên giữ vai trò dẫn dắt.

Do đó, theo ông Hiếu, chính sách FDI không nên được xây dựng và triển khai riêng lẻ mà phải đặt trong tổng thể các chính sách phát triển các khu vực kinh tế. Các bộ, ngành cần rà soát đồng bộ hệ thống pháp luật để tránh chồng chéo, trùng lặp hoặc các chính sách triệt tiêu lẫn nhau. Chính phủ cũng nên nghiên cứu xây dựng một chương trình hoặc kế hoạch hành động chung, bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức thực hiện.

Đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư theo hướng có đầu mối thống nhất ở cấp quốc gia

Ông Lê Quang Hòa cho rằng, để triển khai hiệu quả Nghị quyết 10, cần tập trung đổi mới một số vấn đề cụ thể. Thứ nhất, cần đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư theo hướng có đầu mối thống nhất ở cấp quốc gia. Hiện các địa phương chủ yếu tự tìm kiếm, kết nối với nhà đầu tư qua nhiều kênh khác nhau, trong khi các nhà đầu tư lớn cần sự bảo đảm ở tầm quốc gia và định hướng chiến lược rõ ràng của từng vùng. Vì vậy, cần nâng cao vai trò của cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia trong điều phối, kết nối và thu hút các nhà đầu tư chiến lược.

Thứ hai, cần định hướng rõ từng địa phương, từng khu vực phù hợp với ngành, lĩnh vực và công nghệ nào để phân bổ dòng vốn đầu tư hợp lý, tránh các địa phương cùng phát triển những mô hình tương tự, dẫn tới đầu tư dàn trải và cạnh tranh lẫn nhau.

Thứ ba, cần tăng cường liên kết vùng. Thực tế, sự liên kết giữa các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ còn hạn chế, nhất là trong phát triển logistics và hình thành hệ sinh thái công nghiệp. Trung ương cần có vai trò điều phối để phát huy lợi thế của từng địa phương, tạo chuỗi liên kết vùng và hạn chế tình trạng đầu tư chồng lấn.

Thứ tư, cần cụ thể hóa chủ trương thí điểm các thể chế vượt trội theo Nghị quyết 10. Theo đó, nên có một cơ chế ở cấp Trung ương để tiếp nhận, đánh giá các mô hình mới do địa phương đề xuất, cho phép triển khai thí điểm có kiểm soát, qua đó rút ngắn quy trình và tạo điều kiện để các địa phương chủ động đề xuất những cơ chế phù hợp với thực tiễn.

Khâu trung gian đóng vai trò quan trọng

Ông Phan Đức Hiếu đề xuất một cách tiếp cận mang tính tổng thể và thúc đẩy từ cả hai phía, hai nhóm đối tác: Doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến khâu trung gian, cho rằng khâu trung gian đóng vai trò quan trọng.

Thứ nhất, về phía doanh nghiệp trong nước, ông Hiếu cho rằng nhiệm vụ cấp thiết hiện nay là nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp. Việc nâng cao năng lực sẽ giúp gia tăng mức độ sẵn sàng và mở ra nhiều cơ hội vào chuỗi liên kết. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp FDI bày tỏ mong muốn tìm kiếm đối tác trong nước, nhưng lại gặp khó khăn trong việc chọn lựa những đơn vị đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật khắt khe.

Về phía doanh nghiệp FDI, cần bổ sung thêm các chính sách khuyến khích, kích thích. Mặc dù đã có một số doanh nghiệp như Nestlé chủ động, tự nguyện tìm kiếm đối tác nội địa dù chưa có chính sách hỗ trợ cụ thể từ Nhà nước, nhưng đó mới chỉ là định hướng riêng của từng doanh nghiệp. Để chính sách này lan tỏa rộng rãi hơn trong cộng đồng doanh nghiệp FDI, vốn hiện nay vẫn còn hạn chế và rõ ràng cần phải có cơ chế kích thích phù hợp…

Khuyến khích doanh nghiệp FDI bằng các chính sách ưu đãi

Bà Bùi Thu Thủy nhận định, một trong những vấn đề quan trọng là làm thế nào rút ngắn thời gian để doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng, chúng ta không thể áp dụng các biện pháp hành chính như bắt buộc tỉ lệ nội địa hóa, yêu cầu doanh nghiệp FDI sử dụng nhà cung ứng trong nước hay chuyển giao công nghệ. Thay vào đó, cần tạo động lực bằng các chính sách khuyến khích đủ mạnh.

Theo tinh thần Nghị quyết 10, Bộ Tài chính đang phối hợp với các cơ quan liên quan để thể chế hóa các định hướng này vào Luật Đầu tư và các quy định liên quan. Trong đó, có thể áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế, hỗ trợ chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như chi phí doanh nghiệp FDI bỏ ra để đào tạo, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp Việt Nam.

Việc đào tạo cũng cần thay đổi theo hướng bám sát nhu cầu thực tế của doanh nghiệp FDI. Thay vì Nhà nước tổ chức các chương trình đào tạo nhưng doanh nghiệp sau đào tạo vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, có thể khuyến khích chính doanh nghiệp FDI đào tạo các doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng mà họ lựa chọn, Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí. Đồng thời, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phải đúng, trúng nhu cầu, tránh dàn trải và được triển khai đồng bộ với các chính sách phát triển kinh tế tư nhân.

Bên cạnh đó, cần đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư, trong đó Trung ương giữ vai trò điều phối và xây dựng bản đồ thu hút đầu tư quốc gia. Mỗi vùng, địa phương cần xác định rõ lĩnh vực, loại hình dự án ưu tiên phù hợp với lợi thế và định hướng phát triển. Qua đó, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương và phân bổ dòng vốn FDI hợp lý hơn.

Hà Thanh Giang

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ