🔍
Chuyên mục: Kinh tế

FDI chất lượng cao: Từ thu hút vốn đến nâng tầm nội lực Việt Nam

1 giờ trước
Nghị quyết 10 đánh dấu bước chuyển căn bản từ tư duy “thu hút đầu tư nước ngoài” sang phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao. Thành công không chỉ được đo bằng số dự án hay lượng vốn thu hút, mà quan trọng hơn là khả năng lan tỏa công nghệ, tri thức, năng lực quản trị và đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Các khách mời tham dự Tọa đàm - Ảnh: DGIC/Nhật Bắc

Tại Tọa đàm “Nghị quyết 10: Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao” do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức chiều 7/8, các đại biểu cùng làm rõ bước chuyển trong tư duy về FDI, yêu cầu tăng liên kết, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam.

Không còn cuộc đua bằng số vốn và ưu đãi

Theo bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, hơn 40 năm qua, chính sách thu hút FDI là một chiến lược đúng đắn, giúp huy động nguồn lực lớn cho phát triển đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn cũng bộc lộ những hạn chế, nhất là mức độ lan tỏa đối với khu vực kinh tế trong nước.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược gay gắt, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển mạnh, yêu cầu không còn chỉ là thu hút nhiều vốn hơn mà phải nâng cao chất lượng, hiệu quả và kết hợp nguồn lực bên ngoài với nội lực nền kinh tế.

Từ góc độ cơ quan chủ trì xây dựng đề án trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, bà Bùi Thu Thủy cho rằng Nghị quyết thể hiện 6 chuyển đổi lớn về tư duy.

Trước hết là chuyển từ “thu hút đầu tư nước ngoài” sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, với cách tiếp cận rộng hơn, đồng thời coi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hợp thành hữu cơ của nền kinh tế quốc dân.

Cùng với đó là chuyển từ coi trọng quy mô, số lượng vốn sang chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Câu hỏi quan trọng hơn là dòng vốn tạo ra tác động lan tỏa gì, đem lại kết quả gì cho doanh nghiệp trong nước và đóng góp thế nào cho nền kinh tế.

Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính - Ảnh: DGIC/Nhật Bắc

Cơ chế ưu đãi cũng thay đổi. Theo định hướng mới, ưu đãi phải gắn với kết quả đầu ra và đóng góp thực tế của nhà đầu tư, như mức độ lan tỏa, công nghệ hiện đại, khả năng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước; tránh tình trạng dòng vốn vào nhưng vận hành biệt lập, tạo thành “hai nền kinh tế trong một nền kinh tế”.

Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu chuyển từ thu hút từng dự án riêng lẻ sang phát triển hệ sinh thái; từ “quản lý đầu tư” sang “kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh”; khắc phục tình trạng “cạnh tranh xuống đáy” giữa các địa phương.

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, cho rằng điểm khác biệt quan trọng nằm ở cách tiếp cận bài bản, hệ thống và thực tế hơn, nhìn toàn bộ vòng đời hoạt động đầu tư trong một hệ sinh thái đồng bộ.

Theo ông, muốn nâng cao chất lượng FDI, mấu chốt là nâng cao “năng lực hấp thụ” của nền kinh tế. “Dòng vốn FDI tốt sẽ không tự động lan tỏa nếu như chúng ta thiếu đi năng lực hấp thụ”. Vì vậy, nâng cao chất lượng doanh nghiệp trong nước và khả năng hợp tác với khu vực FDI cũng chính là nâng cao nội lực nền kinh tế.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam, cho rằng ưu đãi, đặc biệt từ khi cơ chế thuế tối thiểu toàn cầu được áp dụng, không còn là yếu tố quyết định duy nhất. Đối với các tập đoàn toàn cầu, điều quan trọng là niềm tin vào định hướng chiến lược của Chính phủ, khuôn khổ chính sách minh bạch và có thể dự báo, chất lượng nguồn nhân lực cùng một hệ sinh thái phụ trợ đủ mạnh.

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách Ủy ban Kinh tế của Quốc hội - Ảnh: DGIC/Nhật Bắc

FDI chỉ thành công khi doanh nghiệp Việt cùng lớn lên

Nếu chất lượng FDI không còn được đo chủ yếu bằng lượng vốn thu hút, một thước đo quan trọng khác được các đại biểu nhấn mạnh là mức độ lan tỏa sang khu vực kinh tế trong nước.

Bà Bùi Thu Thủy cho biết, sau 40 năm phát triển, khoảng cách về năng lực giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn còn lớn. Nhiều nhà đầu tư khi vào Việt Nam thường mang theo hệ sinh thái và các nhà cung cấp của họ, nên không dễ thay đổi nhà cung ứng.

Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa, hạn chế về vốn, quản trị và công nghệ; số doanh nghiệp đủ sức tham gia chuỗi chưa nhiều. Chuyển giao công nghệ ra doanh nghiệp nội địa vẫn khó.

Một ví dụ được bà Thủy nêu là Intel. Tập đoàn bắt đầu đầu tư vào Việt Nam từ năm 2006 nhưng đến năm 2022 mới lựa chọn được doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên trở thành nhà cung ứng trong chuỗi, là Công ty Fab 9 tại Bình Dương. Theo bà, nếu vẫn để thị trường vận hành theo cách cũ, sự hợp tác vẫn có thể xảy ra như trường hợp Intel và Fab 9, nhưng quãng thời gian lên tới gần 20 năm để có sự hợp tác như vậy là quá dài đối với yêu cầu chuyển mình và nâng cao nội lực của nền kinh tế.

Vì vậy, định hướng của Nghị quyết 10 không phải là áp đặt bằng biện pháp hành chính như yêu cầu cứng về tỷ lệ nội địa hóa, bắt buộc doanh nghiệp FDI sử dụng nhà cung ứng trong nước hoặc chuyển giao công nghệ. Thay vào đó, Nhà nước sẽ thiết kế các cơ chế khuyến khích mạnh hơn.

Bà Thủy cho biết Bộ Tài chính đang phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị thể chế hóa các định hướng của Nghị quyết vào Luật Đầu tư, trong đó có các cơ chế đối với chi phí R&D hoặc chi phí doanh nghiệp FDI bỏ ra để đào tạo doanh nghiệp trong nước.

Cách làm được đặt ra là để chính doanh nghiệp FDI đào tạo những doanh nghiệp Việt Nam được họ lựa chọn vào chuỗi cung ứng theo đúng tiêu chuẩn thực tế, còn Nhà nước có cơ chế hỗ trợ phù hợp. Theo bà Thủy, các nội dung này dự kiến được trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp tháng 10 tới.

Từ kinh nghiệm thực tế, ông Binu Jacob cho rằng liên kết chỉ bền vững khi các bên cùng tạo ra giá trị. Ông kể khi Nestlé mới hoạt động tại Việt Nam, doanh nghiệp từng hợp tác với một đơn vị vận tải nội địa rất nhỏ, chỉ có một đầu xe. Thông qua quá trình chia sẻ phương pháp quản trị, quy trình kiểm soát chất lượng, bảo vệ môi trường và kỹ năng kỹ thuật, đơn vị này dần phát triển, đến nay sở hữu đội xe 50 chiếc và từ chỗ chỉ làm đối tác cho Nestlé, họ đã mở rộng hợp tác kinh doanh với 05 doanh nghiệp lớn khác.

Ông Lê Quang Hoà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên - Ảnh: DGIC/Nhật Bắc

Ở góc độ địa phương, ông Lê Quang Hòa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên, cho biết Nghị quyết 10 đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45-50% và có trên 10.000 doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng toàn cầu. Bám sát mục tiêu đó, Hưng Yên phấn đấu có trên 270 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.

Thực tế tại Hưng Yên cho thấy một số khu công nghiệp có hệ sinh thái gần như khép kín của doanh nghiệp nước ngoài, khiến doanh nghiệp Việt khó tiếp cận. Vì vậy, tỉnh định hướng các khu công nghiệp mới (như VSIP, WHA…) sẽ có cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cùng lĩnh vực tham gia.

Theo ông Lê Quang Hòa, ba rào cản nổi bật đối với doanh nghiệp Việt Nam là nguồn nhân lực, công nghệ và vốn. Tỉnh sẽ tập trung vào đào tạo, R&D, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp nội địa nâng cao quản trị, đổi mới công nghệ, tiếp cận tài chính và tăng kết nối với doanh nghiệp FDI.

Ông Phan Đức Hiếu cho rằng mục tiêu dài hạn không nên dừng ở việc giúp doanh nghiệp Việt Nam đủ sức trở thành nhà cung ứng cho khu vực FDI. Cao hơn, Việt Nam cần hướng tới hình thành những chuỗi giá trị toàn cầu do chính doanh nghiệp Việt Nam vươn lên nắm vai trò dẫn dắt.

Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam - Ảnh: DGIC/Nhật Bắc

Thành công nằm ở năng lực thực thi

Theo các đại biểu, Nghị quyết 10 đã xác định rõ định hướng, nhưng kết quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng tổ chức thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương và giữa các khu vực doanh nghiệp.

Theo đó, khi đã tiếp cận FDI theo tư duy hệ sinh thái thì cải cách thể chế cũng phải được thực hiện đồng bộ. Ưu tiên hàng đầu là bảo đảm tính đồng bộ, đồng thời và kịp thời trong toàn bộ hệ thống chính sách.

Từ thực tiễn địa phương, ông Lê Quang Hòa cho rằng cần đổi mới mạnh mẽ hoạt động xúc tiến đầu tư. Với các nhà đầu tư lớn, việc từng địa phương tự tìm kiếm, tự tiếp xúc là chưa đủ; họ cần sự bảo đảm ở tầm quốc gia và một định hướng rõ về chiến lược phát triển của từng vùng.

Ông đề nghị Trung ương hoạch định rõ hơn ngành, công nghệ phù hợp với từng địa bàn để định hướng dòng vốn, tránh đầu tư dàn trải và cạnh tranh lẫn nhau; đồng thời tăng liên kết vùng về logistics và hạ tầng.

Bà Bùi Thu Thủy cho biết, Nghị quyết số 10 đã đề ra giải pháp rất mạnh mẽ nhằm đổi mới căn bản hoạt động xúc tiến đầu tư. Trong đó, vai trò của Trung ương là đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng bản đồ thu hút đầu tư quốc gia, thực hiện phân vùng hợp lý: vùng kinh tế trọng điểm ưu tiên dự án công nghệ cao, còn các dự án chưa phù hợp có thể được điều phối sang vùng phụ cận hoặc khu vực khác.

Ông Phan Đức Hiếu cũng nhấn mạnh vai trò của “khâu trung gian” trong kết nối doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam. Các hiệp hội doanh nghiệp, chính quyền địa phương hoặc định chế chuyên trách có thể giúp hai bên kết nối, tạo dựng niềm tin và giám sát cam kết trong giai đoạn đầu.

Trong khi đó, ông Binu Jacob đề xuất một thay đổi khá thú vị trong cách nhìn: thay vì chỉ gọi là “nhà đầu tư nước ngoài”, có thể sử dụng các thuật ngữ như "đối tác FDI", "đối tác đầu tư" hoặc "đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài". Theo ông, cách tiếp cận này phản ánh đúng hơn một mối quan hệ dài hạn, trong đó quyền hạn, trách nhiệm và vai trò của mỗi bên được xác định rõ.

“Chúng tôi thực sự là những đối tác có cam kết dài hạn và tâm huyết đối với những định hướng, chính sách mà Việt Nam đã, đang và sẽ triển khai… Vì vậy, việc chuyển đổi tư duy từ "nhà đầu tư" sang "đối tác đầu tư" là rất cần thiết”, ông Binu Jacob nói.

Thông điệp xuyên suốt từ các ý kiến tại tọa đàm là thành công của Nghị quyết 10 sẽ không chỉ được đo bằng số dự án hay tổng vốn đầu tư thu hút được. Thước đo quan trọng hơn là mức độ lan tỏa công nghệ, tri thức và năng lực quản trị; số doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu; cùng với khả năng biến nguồn lực từ bên ngoài thành năng lực phát triển bên trong của nền kinh tế.

Lê Đỗ

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ