🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Vì sao Việt Nam phải thay đổi tư duy về FDI?

51 phút trước
Đây là một trong những nội dung chính được các chuyên gia thảo luận tại Tọa đàm "Nghị quyết 10: Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao", chiều 7/8.

Theo các chuyên gia, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ tạo ra những chính sách mới mà còn mở ra một cách nhìn mới về con đường phát triển của đất nước. Trong gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Nhưng khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng phải thay đổi.

Các khách mời tham dự tọa đàm. (Ảnh: DGIC/Nhật Bắc).

Việt Nam không còn thu hút FDI bằng mọi giá

Trả lời câu hỏi vì sao phải thay đổi tư duy về FDI, bà Bùi Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) - cho biết, trong hơn 40 năm qua, FDI mang lại nhiều tác động rất tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập, trong bối cảnh và giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.

Bước sang giai đoạn mới, khi cạnh tranh chiến lược đang rất áp lực, cùng với sự bứt phá mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước là phải có bước đổi mới căn bản trong mô hình phát triển“, bà Thủy nói.

Cụ thể, theo bà, việc phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ dừng lại ở thu hút được nhiều hơn về quy mô vốn như giai đoạn trước, mà phải hướng tới việc nâng cao chất lượng, hiệu quả, đặc biệt là kết hợp chặt chẽ giữa nguồn lực nước ngoài với nguồn lực trong nước nhằm gia tăng nội lực của nền kinh tế.

Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn đó, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài FDI. Trong đó, Nghị quyết có 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển.

Thông điệp cốt lõi của Nghị quyết 10 là sự chuyển đổi về mục tiêu: không chỉ dừng lại ở việc huy động nguồn vốn đong đếm bằng số lượng dự án, mà quan trọng là huy động và kết nối nguồn lực quốc tế với nội lực nền kinh tế, nhằm kiến tạo năng lực phát triển mới cho kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng

Bà Bùi Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính)

Đầu tiên là chuyển đổi từ tư duy “thu hút đầu tư nước ngoài” sang tư duy “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Nghị quyết đã tiếp cận một cách toàn diện và bao quát hơn, bao gồm cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, các thiết chế tài chính quốc tế, đồng thời coi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hợp thành hữu cơ của nền kinh tế quốc dân.

Tiếp đó, chuyển từ coi trọng quy mô, số lượng vốn sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Nếu như trong giai đoạn đầu, kết quả thu hút đầu tư nước ngoài chủ yếu được đánh giá thông qua số lượng dự án và tổng số vốn thu hút, thì trong bối cảnh mới, thu hút vốn vẫn cần thiết nhưng không còn là yếu tố duy nhất.

Chính sách ưu đãi trong thời gian tới cũng thay đổi Ưu đãi phải dựa trên đóng góp thực tế của dòng vốn đối với nền kinh tế, như mức độ lan tỏa, công nghệ hiện đại, khả năng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước; tránh tình trạng dòng vốn vào nhưng vận hành biệt lập, tạo thành hiện tượng “2 nền kinh tế trong 1 nền kinh tế”.

Việc thu hút các dự án FDI đơn lẻ cũng chuyển sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái gắn kết với các dòng vốn quốc tế, không chỉ giúp thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn mà còn giúp phân bổ lại nguồn lực, tối ưu hóa sự phát triển của nền kinh tế.

Đáng chú ý, tư duy “quản lý đầu tư” chuyển sang “kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh”. Trong những năm trước, quản lý dòng vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm không vi phạm pháp luật, tuân thủ đúng các quy định hiện hành, bảo đảm an ninh, an toàn và môi trường. Trong giai đoạn mới, cơ quan quản lý phải kiến tạo môi trường thuận lợi để dòng vốn ngoại kết hợp hiệu quả với dòng vốn nội, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn.

Nghị quyết số 10 cũng nhấn mạnh phải khắc phục triệt để tình trạng “cạnh tranh xuống đáy” giữa các địa phương trong thu hút đầu tư và bảo đảm công tác điều phối phát triển các dòng vốn ở tầm quốc gia. Yêu cầu đặt ra là phải phân bổ và điều phối hài hòa dòng vốn vào đúng những khu vực, ngành nghề thực sự có nhu cầu, bảo đảm sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng, miền trong bối cảnh mới.

Tóm lại, thông điệp cốt lõi của Nghị quyết 10 là sự chuyển đổi về mục tiêu: không chỉ dừng lại ở việc huy động nguồn vốn đong đếm bằng số lượng dự án, mà quan trọng là huy động và kết nối nguồn lực quốc tế với nội lực nền kinh tế, nhằm kiến tạo năng lực phát triển mới cho kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Đó chính là thông điệp trọng tâm mà Nghị quyết số 10-NQ/TW muốn gửi tới các nhà đầu tư“, bà Thủy nhấn mạnh.

Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính. (Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc)

Thu hút FDI bằng hệ sinh thái, không chỉ bằng ưu đãi

Đồng quan điểm, ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Ủy ban Kinh tế Tài chính của Quốc hội, nhận xét: “Nghị quyết số 10-NQ/TW mang những điểm thực sự đột phá và thay đổi. Điều quan trọng nhất theo tôi chính là sự thay đổi hoàn toàn về cách tiếp cận. Chúng ta tiếp cận một cách bài bản và hệ thống hơn. Hai là, tư duy của chúng ta trở nên sâu sắc và thực tế hơn. Tôi nhận thấy dù kế thừa nhiều mục tiêu, quan điểm và giải pháp từ trước, nhưng nghị quyết này đã tạo ra sự thay đổi lớn về cả chất và lượng so với các nghị quyết trước đây“.

Ông Hiếu phân tích, lần này chúng ta xác định rất rõ ràng việc thu hút cả dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII). Đó là một cách tiếp cận rất hệ thống.

Mấu chốt lần này trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là xây dựng một hệ sinh thái thuận lợi cho các hoạt động đầu tư nước ngoài. Tức là chúng ta nhìn nhận toàn bộ vòng đời hoạt động của dự án đầu tư nước ngoài, từ giai đoạn xúc tiến, thu hút đầu tư ban đầu cho đến suốt quá trình vận hành, hoạt động sau này, tất cả phải dựa trên một hệ sinh thái đồng bộ. Như vậy, chúng ta thể hiện tính bài bản.

Ông cũng cho rằng Việt Nam không thể thu hút đầu tư mãi bằng một công cụ duy nhất là ưu đãi. Muốn nâng cao chất lượng dòng vốn FDI, vấn đề mấu chốt là phải nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế.

Ông Hiếu nhấn mạnh, dòng vốn FDI tốt không tự động tạo ra lan tỏa nếu nền kinh tế thiếu khả năng hấp thụ. Do đó, cùng với thu hút FDI, phải nâng cao chất lượng khu vực doanh nghiệp trong nước, hoàn thiện hạ tầng phục vụ sản xuất, kinh doanh và tăng khả năng sẵn sàng hợp tác với khu vực đầu tư nước ngoài.

Đây chính là điểm khác biệt quan trọng: thay vì chỉ tìm cách làm cho dòng vốn ngoại “chảy vào”, Việt Nam phải chuẩn bị năng lực để hấp thụ và biến dòng vốn đó thành năng lực của chính mình.

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế của Quốc hội - (Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc)

Dẫn chứng việc cụ thể hóa Nghị quyết 10 vào thực tế địa phương, ông Lê Quang Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên, cho biết, hiện nay Hưng Yên duy trì vị thế trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI. Đồng thời, tỉnh cũng được đánh giá là một trong 10 địa phương có mức độ hấp dẫn hàng đầu đối với các doanh nghiệp lớn trong cả nước năm 2025.

Trong bối cảnh chịu áp lực rất lớn về thu hút đầu tư và tối ưu hóa việc khai thác nguồn lực hạ tầng công nghiệp, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã mang lại một luồng sinh khí mới cho các địa phương trong cả nước. Nghị quyết chứa đựng nhiều điểm mới mang tính đột phá về tư duy và cơ chế“, ông Hòa nhấn mạnh.

Định hướng chiến lược mà Hưng Yên triển khai trên cơ sở tinh thần Nghị quyết là không phát triển công nghiệp đơn lẻ mà luôn gắn kết chặt chẽ phát triển công nghiệp với đô thị, sinh thái, du lịch và nghỉ dưỡng.

Thay vì chỉ tìm cách làm cho dòng vốn ngoại “chảy vào”, Việt Nam phải chuẩn bị năng lực để hấp thụ và biến dòng vốn đó thành năng lực của chính mình.

Ông Phan Đức Hiếu - Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế của Quốc hội

Để thu hút được dòng vốn FDI chất lượng cao từ các tập đoàn lớn, tỉnh phối hợp linh hoạt giữa phương thức truyền thống với các phương pháp tiếp cận tiên tiến. Hưng Yên đã chủ động đổi mới quy trình, thiết lập cơ chế “luồng xanh” hành chính, thay đổi toàn diện phương thức xúc tiến đầu tư và chủ động tiếp cận các nhà đầu tư chiến lược. Mục tiêu là định hình các chuỗi giá trị sản xuất gắn liền với hạ tầng logistics và hệ sinh thái công nghiệp hiện đại của tỉnh.

Một điểm nhấn quan trọng khác của Nghị quyết 10 được Hưng Yên xác định là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - yếu tố then chốt quyết định năng lực hấp thụ vốn FDI. Nguồn nhân lực ở đây không chỉ dừng lại ở lực lượng lao động phục vụ doanh nghiệp FDI, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực quản trị công của hệ thống chính trị.

Tỉnh xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm và sẽ ban hành nhiều cơ chế, chính sách đồng bộ nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm cả nhân lực quản trị nhà nước và hạ tầng nhân lực kỹ thuật đáp ứng đúng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới“, ông Hòa khẳng định.

Ông Lê Quang Hoà - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên - (Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc)

Theo lãnh đạo tỉnh Hưng Yên, nên đổi mới ngay trong hoạt động xúc tiến đầu tư, đây là vấn đề rất cấp bách. Hiện nay chúng ta đang tách bạch xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại. Xúc tiến đầu tư như hiện nay chỉ có thể thu hút được những nhà đầu tư rất nhỏ. Bởi vì nhà đầu tư lớn cần sự đảm bảo của quốc gia, cần sự hoạch định chiến lược phát triển của từng vùng.

Có nhà đầu tư nước ngoài đến tỉnh Hưng Yên và nói rằng: ‘Tôi đã đi 34 tỉnh và tôi ký MOU với ba mươi mấy tỉnh rồi’. Như thế là rất khó khăn trong hoạch định“, ông Hòa dẫn chứng.

Trung ương cũng cần sớm hoạch định rõ trong luật, xem tỉnh này, hạ tầng này thì thích ứng với công nghệ gì để định hướng dòng vốn đầu tư về đó, không trùng lặp, tránh cạnh tranh hạ tầng khu công nghiệp, làm mất đi giá trị và tạo ra một nền kinh tế không đồng bộ. “Trong xúc tiến đầu tư và hoạch định quy mô đầu tư, định vị nhà đầu tư lớn cho từng khu vực là rất cần thiết“, ông nêu quan điểm.

Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam. (Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc)

Chuyển tư duy từ “nhà đầu tư” sang “đối tác FDI”

Trong khi đó, ông Phan Đức Hiếu cho rằng, nhiệm vụ cấp thiết hiện nay là nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp, giúp gia tăng mức độ sẵn sàng và mở ra nhiều cơ hội vào chuỗi liên kết. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp FDI mong muốn tìm kiếm đối tác trong nước, nhưng lại gặp khó khăn trong việc chọn lựa những đơn vị đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật khắt khe.

Về phía doanh nghiệp FDI, cần bổ sung thêm các chính sách khuyến khích, kích thích. “Tôi đề nghị rà soát kỹ Luật Đầu tư. Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy mặc dù đã có một số quy định hướng tới thúc đẩy sự liên kết này, nhưng các chính sách cụ thể vẫn chưa thực sự rõ nét“, ông nói.

Trong xúc tiến đầu tư và hoạch định quy mô đầu tư, định vị nhà đầu tư lớn cho từng khu vực là rất cần thiết

Ông Lê Quang Hoà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên

Nêu quan điểm của mình về vấn đề này, bà Bùi Thu Thủy cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập sâu rộng và tham gia nhiều cam kết quốc tế, Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng đã khẳng định rõ ràng nguyên tắc: Chúng ta không can thiệp bằng biện pháp hành chính theo hướng đặt ra các quy định cứng nhắc về tỉ lệ nội địa hóa, hay bắt buộc các doanh nghiệp FDI khi vào Việt Nam phải sử dụng nhà cung ứng trong nước hoặc buộc phải chuyển giao công nghệ. Trong bối cảnh hiện nay, việc áp dụng các biện pháp hành chính mang tính áp đặt như vậy là không phù hợp.

Cũng theo bà Thủy, Bộ Tài chính đang phối hợp với các cơ quan liên quan để chuẩn bị trình Quốc hội thể chế hóa các tư tưởng, định hướng chính sách này vào Luật Đầu tư cùng các giải pháp đồng bộ.

Theo đó, Nhà nước sẽ tập trung khuyến khích các doanh nghiệp FDI, nhưng các giải pháp khuyến khích sẽ được thiết kế mạnh mẽ hơn so với giai đoạn trước.

Nếu một doanh nghiệp FDI bỏ ra 10 tỷ đồng cho công tác đào tạo, Nhà nước có thể hỗ trợ lại một phần khoảng 30-50%, hoặc quy định cơ chế cho phép tính khoản chi phí này vào ưu đãi khấu trừ thuế, hoặc áp dụng các hình thức bù đắp phù hợp khác nhằm hoàn trả kinh phí mà doanh nghiệp FDI đã đầu tư hỗ trợ doanh nghiệp nội địa có cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị.

Với các doanh nghiệp trong nước, chúng ta cũng thay đổi phương thức hỗ trợ, đảm bảo đúng và trúng nhu cầu thực tế nhằm tạo sự kết nối hiệu quả với các doanh nghiệp FDI, tránh tình trạng hỗ trợ dàn trải, kém hiệu quả“, bà Thủy nêu ví dụ.

Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam Binu Jacob kiến nghị: “Hiện nay, chúng ta thường sử dụng cụm từ “nhà đầu tư nước ngoài”, tạo cảm giác về một chủ thể từ bên ngoài vào Việt Nam thực hiện một hoạt động nhất định rồi sẽ rút lui. Chúng ta nên chuyển sang sử dụng các thuật ngữ như “đối tác FDI”, “đối tác đầu tư” hoặc “đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Chúng tôi thực sự là những đối tác có cam kết dài hạn và tâm huyết đối với những định hướng, chính sách mà Việt Nam đã, đang và sẽ triển khai.

Vì vậy, việc chuyển đổi tư duy từ “nhà đầu tư” sang “đối tác đầu tư” là rất cần thiết. Khi xác lập mối quan hệ đối tác, điều đó tương tự như việc các bên cùng ký kết một giao ước hay một hợp đồng chính thức, trong đó xác định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm và vai trò của từng chủ thể“.

Châu Anh

TIN LIÊN QUAN































Home Icon VỀ TRANG CHỦ