🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Phát triển điện hạt nhân: Nhân lực là then chốt

4 giờ trước
Để thực hiện các mục tiêu phát triển năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình và triển khai điện hạt nhân đến năm 2035, Việt Nam sẽ cần hàng chục nghìn nhân lực trực tiếp và gián tiếp trong nhiều lĩnh vực, từ quản lý nhà nước, nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật đến vận hành nhà máy, y học hạt nhân và ứng dụng bức xạ trong công nghiệp, nông nghiệp.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu 100% nhân lực quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, 100% nhân lực hỗ trợ kỹ thuật và 100% nhân viên bức xạ tại các cơ sở được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân. Ảnh: Bộ KHCN.

Nhu cầu nhân lực tăng mạnh cùng chương trình điện hạt nhân

Việc khôi phục chương trình điện hạt nhân và mở rộng ứng dụng năng lượng nguyên tử đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo TS Nguyễn Hoàng Linh, Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (VARANS), nhu cầu phát triển nguồn nhân lực đang trở nên cấp bách khi Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm tái khởi động Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận cũng như mở rộng ứng dụng năng lượng nguyên tử trong nhiều lĩnh vực.

Theo Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, điện hạt nhân được định hướng đóng góp khoảng 6-8% tổng sản lượng điện quốc gia, với việc đưa vào vận hành 4 tổ máy điện hạt nhân công suất lớn cùng 10-15 lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR).

Đến năm 2030, hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 dự kiến cần khoảng 3.900 nhân lực trực tiếp vận hành, trong đó có 670 kỹ sư được đào tạo trình độ đại học ở nước ngoài.

Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Hoàng Linh, đây mới chỉ là lực lượng phục vụ vận hành nhà máy. Thực tế, nhu cầu nhân lực của ngành năng lượng nguyên tử còn trải rộng ở nhiều lĩnh vực như cơ quan pháp quy, quản lý nhà nước, an toàn và an ninh hạt nhân, nghiên cứu - phát triển, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, y học hạt nhân, công nghệ bức xạ, quản lý chất thải phóng xạ, quan trắc môi trường, ứng phó sự cố cũng như các hoạt động ứng dụng trong công nghiệp và nông nghiệp.

Điều đó đồng nghĩa, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển ngành, Việt Nam sẽ cần một lực lượng nhân sự quy mô lớn, được đào tạo bài bản theo chuẩn quốc tế trong nhiều chuyên ngành khác nhau.

Đáp ứng yêu cầu đó, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 893/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - phát triển, ứng dụng và hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử".

Đề án xác định phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt và mang tính chiến lược lâu dài, hướng tới xây dựng đội ngũ đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và bảo đảm chất lượng để phục vụ phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử gắn với yêu cầu an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân.

Theo đó, ba nhóm nhân lực trọng tâm sẽ được đào tạo gồm nhân lực quản lý nhà nước; nhân lực nghiên cứu - phát triển và hỗ trợ kỹ thuật; nhân lực ứng dụng năng lượng nguyên tử tại các cơ sở sử dụng bức xạ.

Đến năm 2030, mục tiêu đặt ra là 100% nhân lực quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương được đào tạo, bồi dưỡng để đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ quản lý về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và ứng dụng năng lượng nguyên tử.

Đối với cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia, tối thiểu 50% nhân lực phải được đào tạo đủ năng lực xây dựng chính sách, thẩm định, thanh tra, giám sát các dự án điện hạt nhân; trong đó 30% nhân lực được đào tạo và tích lũy kinh nghiệm tại các cơ quan quản lý, tổ chức hỗ trợ kỹ thuật hoặc cơ sở điện hạt nhân ở nước ngoài nhằm hình thành đội ngũ chuyên gia nòng cốt phục vụ công tác cấp phép và giám sát.

Đến năm 2035, yêu cầu còn cao hơn khi đội ngũ này phải tự chủ được khoảng 70% năng lực thẩm định, đánh giá, thanh tra và giám sát các dự án điện hạt nhân, đồng thời làm chủ hoàn toàn công tác quản lý đối với lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.

Xây dựng hệ sinh thái đào tạo theo chuẩn quốc tế

Từ kinh nghiệp quốc tế, GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ, Đại học Năng lượng quốc gia Moskva (Liên bang Nga) đề xuất Việt Nam nên phát triển mô hình "khoa liên kết" với các trường đại học và cơ sở đào tạo quốc tế để xây dựng chương trình chung, phát triển đội ngũ giảng viên và tăng cường trao đổi học thuật.

Ông cũng cho rằng cần kết hợp hài hòa giữa đào tạo ở nước ngoài với việc xây dựng năng lực đào tạo trong nước, qua đó vừa tiếp cận được tri thức tiên tiến, vừa hạn chế tình trạng "chảy máu chất xám".

Theo các chuyên gia, để phát triển nhân lực năng lượng nguyên tử không thể thực hiện theo cách dàn trải mà cần hình thành một hệ sinh thái đào tạo đồng bộ với sự tham gia của cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Theo đó, nên tập trung nguồn lực vào khoảng 5-6 cơ sở đào tạo nòng cốt, thay vì phân tán ở nhiều đơn vị, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tối ưu nguồn lực đầu tư.

Các chương trình đào tạo cũng cần được cập nhật theo hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), đồng thời phát triển các chương trình kỹ sư chuyên sâu, gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của chương trình điện hạt nhân.

Không chỉ dừng ở việc đáp ứng nhu cầu vận hành các dự án điện hạt nhân trong nước, Đề án còn đặt mục tiêu dài hạn đến năm 2050 xây dựng đội ngũ chuyên gia có khả năng làm chủ công nghệ, từng bước tham gia chuỗi giá trị hạt nhân toàn cầu.

Theo định hướng, Việt Nam sẽ hình thành 4-5 nhóm nghiên cứu mạnh có khả năng tiếp thu, cải tiến và phát triển một số công nghệ hạt nhân phục vụ các dự án điện hạt nhân, trong đó có lò phản ứng mô-đun nhỏ và lò phản ứng nghiên cứu.

Song song với đó là việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong đào tạo nhân lực thông qua ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo vào lập kế hoạch, tổ chức đào tạo và đánh giá năng lực; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nhân lực năng lượng nguyên tử và số hóa toàn bộ chương trình đào tạo.

Thu Hương

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ