Sáng tạo văn hóa với AI: Công nghệ càng mạnh, trách nhiệm càng lớn
Tại tọa đàm Đạo đức và sáng tạo trong kỷ nguyên AI do Văn phòng UNESCO tại Việt Nam vừa tổ chức, các diễn giả đã cùng phân tích bức tranh toàn cảnh về ứng dụng AI, từ góc nhìn công nghệ đến các tác động pháp lý, xã hội và văn hóa. Sự giao thoa giữa tiềm năng sáng tạo và những thách thức đạo đức đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng khung quản trị minh bạch, bảo vệ bản sắc dân tộc trên không gian số.
Tiềm năng số hóa tài sản văn hóa
Từ góc độ hạ tầng công nghệ và các thiết chế văn hóa, AI đang tạo ra những bước chuyển lớn trong việc lưu trữ, tổng hợp và tái hiện tài sản văn hóa. GS-TS. Huỳnh Thị Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ thông tin và Truyền thông (Đại học Bách khoa Hà Nội), cho biết hạ tầng dữ liệu và mạng lưới nghiên cứu AI tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ. Đến nay, cả nước đã có 45 trung tâm dữ liệu, tỷ lệ phủ sóng di động đạt 99,8% dân số, và hơn 10 triệu bản ghi dữ liệu mở được công bố.

Đạo đức trong ứng dụng AI hiện là bài toán thách thức giới chuyên gia tìm kiếm lời giải thỏa đáng.
Ông Đặng Minh Vệ, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội đánh giá, AI là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các cơ quan lưu trữ và bảo tồn di sản. Từ thực tiễn trong công tác tại bảo tàng, ông cho biết Bảo tàng Hà Nội hiện đang lưu giữ gần 73.000 tài liệu, hiện vật từ thời kỳ dựng nước và giữ nước. Nếu sử dụng nhân lực truyền thống để thống kê lượng tài nguyên này, phải tốn hàng trăm người làm việc trong nhiều năm. Trong khi đó, AI cho phép tổng hợp các tập dữ liệu di sản hiện có một cách nhanh chóng. Song song với đó, AI mở ra phương thức truyền thông, quảng bá di sản đến cộng đồng toàn cầu mà không bị giới hạn bởi không gian.
Tuy nhiên, PGS-TS. Nguyễn Thị Quế Anh, Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội nhấn mạnh, quá trình số hóa và sáng tạo sản phẩm văn hóa số luôn yêu cầu dấu ấn sáng tạo của con người. Khi ứng dụng AI để tạo ra một tác phẩm văn học, nghệ thuật hay chương trình biểu diễn, người sáng tạo phải liên tục tương tác, điều chỉnh câu lệnh, đưa vào các tham số kỹ thuật và dữ liệu đầu vào mang tính duy nhất. Việc chủ động huấn luyện AI trong suốt quá trình tạo sinh chính là yếu tố cốt lõi để hình thành nên một sản phẩm văn hóa số hoàn chỉnh.
Rủi ro sai lệch dữ liệu, nguy cơ rập khuôn
Bên cạnh tiềm năng, thiếu hụt dữ liệu chuẩn hóa về văn hóa Việt Nam đang dẫn đến nguy cơ sai lệch nghiêm trọng khi khởi tạo các tài sản số. Ông Vệ chia sẻ thực tế khi Bảo tàng Hà Nội thực hiện bộ phim hoạt hình về di tích khảo cổ Vườn Chuối (xã Hoài Đức, Hà Nội), có niên đại từ 2.000 đến 4.000 năm. Khi bảo tàng ứng dụng mô hình AI thương mại của nước ngoài để sản xuất video tự động, kết quả trả về bị sai lệch hoàn toàn. Do thiếu dữ liệu nền tảng về văn hóa và di sản Việt Nam, hệ thống đã tự động gán ghép những hình ảnh, hoa văn mang đặc trưng văn hóa ngoại quốc vào video, làm biến dạng các yếu tố lịch sử và bản sắc thuần Việt của di tích.

Ông Đặng Minh Vệ mong muốn nhà quản lý phải chắt lọc, kiểm chứng dữ liệu AI để bảo vệ lịch sử.
Để giải quyết tình trạng “lai căng” văn hóa từ AI, Bảo tàng Hà Nội đã mời các họa sĩ tiến hành dập hoa văn từ các hiện vật khai quật thực tế, vẽ lại chi tiết và nạp trực tiếp làm dữ liệu đầu vào cho công nghệ số. Nhờ quy trình kiểm soát này, sản phẩm video mới đạt được độ chuẩn xác và thể hiện đúng tính “thuần Việt”.
Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội nhận định, trách nhiệm của các nhà nghiên cứu và quản lý văn hóa là phải chắt lọc, kiểm chứng xem các hoa văn hay tạo hình do AI sinh ra có đúng với sự thật lịch sử hay không.
Đồng tình quan điểm, ThS. Nguyễn Phan Anh, Trường Đại học Thương mại, chia sẻ khi người dùng phụ thuộc hoàn toàn vào công cụ, mà không hiểu cơ chế hoạt động của dữ liệu, các sản phẩm sáng tạo sẽ dễ bị rập khuôn, đồng hóa và thiếu đi chiều sâu văn hóa.
Hoàn thiện thể chế pháp lý, nguyên tắc đạo đức trước làn sóng AI
Để định hướng phát triển AI an toàn, GS-TS. Huỳnh Thị Thanh Bình cho biết Việt Nam đã sớm hoàn thiện hệ thống thể chế và các văn bản quy phạm pháp luật. Cùng với đó là phương pháp đánh giá mức độ sẵn sàng về đạo đức AI (RAM) do UNESCO phối hợp triển khai đã đưa ra 21 khuyến nghị ưu tiên cho Việt Nam. Các khuyến nghị này tập trung vào xây dựng khung pháp lý bắt buộc, thành lập Ủy ban Đạo đức AI quốc gia và phát triển công nghệ AI phục vụ bảo tồn văn hóa, ngôn ngữ bản địa.

GS-TS. Huỳnh Thị Thanh Bình khuyến nghị cần hoàn thiện khung pháp lý và chính sách đạo đức AI.
Phân tích sâu hơn ở góc độ quản lý nhà nước, PGS-TS. Nguyễn Thị Quế Anh nhấn mạnh, hoạt động sáng tạo ứng dụng AI hiện bị điều chỉnh trực tiếp bởi 3 luật quan trọng: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Trí tuệ nhân tạo. Theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, một tác phẩm chỉ được bảo hộ quyền tác giả khi có sự tham gia sáng tạo đáng kể của con người. Tác giả phải lưu vết toàn bộ quá trình tương tác, từ việc sáng tạo câu lệnh, thiết lập thông số kỹ thuật đến việc cung cấp dữ liệu gốc để chứng minh quyền sở hữu.
Bên cạnh đó, Luật Trí tuệ nhân tạo ban hành cách tiếp cận quản lý dựa trên việc phân loại rủi ro theo ba cấp độ: thấp, trung bình và cao. Các sản phẩm AI ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục hoặc dịch vụ công sẽ xếp vào nhóm rủi ro cao, chịu sự giám sát chặt chẽ. Điều 11 của Luật Trí tuệ nhân tạo cũng quy định nghĩa vụ minh bạch, bắt buộc dán nhãn đối với các hệ thống AI tương tác trực tiếp với con người.

Ứng dụng công nghệ AI, tạo ra hình ảnh một ca sĩ từ chính AI, được các nhà sáng tạo lựa chọn cho sản phẩm văn hóa. Ảnh: VieON

Công nghệ AI trao quyền cho nghệ sĩ đem trải nghiệm mới đến với công chúng, song cần cẩn trọng để không “mất chất”. Ảnh: Đan Trường/MV Ầu ơ ví dầu

Du khách tham quan triển lãm kỹ thuật số mang tên “Hà Nội rạng rỡ – Ánh sáng và di sản” vào cuối tháng 12.2025. Ảnh: VNA
Đặc biệt, PGS-TS. Nguyễn Thị Quế Anh lưu ý, điểm mới trong Luật Sở hữu trí tuệ liên quan đến quyền bảo lưu. Theo đó, khi các tổ chức, cá nhân thu thập di sản văn hóa, tác phẩm nghệ thuật hay bản ghi âm, ghi hình để huấn luyện mô hình AI nhằm mục đích thương mại, chủ sở hữu tác phẩm có quyền tuyên bố bảo lưu, không cho phép sử dụng dữ liệu của mình. Đây là công cụ pháp lý quan trọng giúp các nghệ sĩ và nhà quản lý bảo vệ di sản văn hóa khỏi nguy cơ bị khai thác thương mại trái phép.
Đồng thời, Chương V của Luật Trí tuệ nhân tạo cùng Nghị định 05 năm 2026 đã cụ thể hóa 4 trụ cột đạo đức AI: An toàn, bảo mật và bảo vệ sức khỏe, danh dự của con người; Tôn trọng quyền con người và quyền cá nhân; Phát triển bao trùm, bền vững, giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống; Đổi mới sáng tạo có trách nhiệm.
Tựu chung lại, sự kết hợp giữa tư duy sáng tạo của nghệ sĩ và nguyên tắc đạo đức cứng rắn, khung pháp lý minh bạch chính là bàn đạp để văn hóa Việt Nam khai thác hiệu quả sức mạnh của công nghệ số.
Bài và ảnh: Đoan Túc
4 giờ trước
4 giờ trước
1 giờ trước
4 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước