🔍
Chuyên mục: Tài chính

Nới giới hạn tỷ lệ vốn ngắn hạn: 'Cú hích' cho hạ tầng dưới áp lực quản trị thanh khoản

3 giờ trước
Chuyên gia của FiinRatings cho rằng biện pháp mới sẽ góp phần giải bài toán vốn cấp bách, song cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng chấp nhận các khoản vay có chu kỳ thu hồi vốn dài hơn, độ bất định cao hơn và nhạy cảm hơn với những biến động kinh tế khó dự đoán trong tương lai.

Ngân hàng Nhà nước vừa chính thức nâng trầntỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%, đảo chiều so với lộ trình giảm dần kéo dài nhiều năm qua nhằm kiểm soát rủi ro cân đối nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng.

Việc nới giới hạn có thể mở rộng dư địa cho các tổ chức tín dụng tăng cho vay trung, dài hạn, hỗ trợ doanh nghiệp và các lĩnh vực cần vốn lớn. Tuy nhiên, chính sách cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị thanh khoản, chất lượng tín dụng và sự cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng với an toàn hệ thống.

Trước khả năng có thay đổi quan trọng trong định hướng điều hành chính sách tiền tệ và quản lý an toàn hệ thống ngân hàng, TheLEADER đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Anh Quân - Phó giám đốc phân tích & nghiên cứu, FiinRatings nhằm làm rõ tác động của việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn cũng như những ảnh hưởng tới ngành ngân hàng, dòng vốn doanh nghiệp và triển vọng thị trường vốn Việt Nam trong chu kỳ tăng trưởng mới.

Dư địa tăng trưởng tín dụng cho ngân hàng

Theo FiinRatings, đâu là những yếu tố khiến cơ quan quản lý lựa chọn thời điểm này để nới lại giới hạn sau nhiều năm siết giảm?

Chuyên gia Nguyễn Anh Quân: Nhu cầu vốn trung và dài hạn lớn như hiện nay với hàng loạt các dự án hạ tầng được triển khai, kênh vốn tín dụng dài hạn khác bao gồm trái phiếu doanh nghiệp đang trong quá trình cải cách và vay vốn tín dụng quốc tế chưa thực sự thuận lợi.

Trong bối cảnh đó, NHNN đã lựa chọn việc điều chỉnh một chỉ tiêu mang tính kỹ thuật nhằm nới lỏng tín dụng hướng đến việc phục vụ mục đích cụ thể này để kịp thời giải quyết bài toán vốn dài hạn cho hạ tầng và qua đó cũng nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao.

Ông Quân cho rằng biện pháp chính sách mới sẽ góp phần giải bài toán nhu cầu vốn dài hạn trong bối cảnh hiện nay. Ảnh: NVCC

Thực tế, trước đây từ năm 2014, công cụ này đã từng được sử dụng. Cụ thể, NHNN đã nâng tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại từ 30% lên 60% theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN và sau đó giảm dần về 40% vào cuối năm 2020 và về mức trần hiện nay là 30% từ cuối 2023.

Tại thời điểm đó, nền kinh tế đang trong giai đoạn hậu tái cấu trúc sau chu kỳ bất ổn 2011–2013; nhu cầu vốn trung, dài hạn của doanh nghiệp là khá lớn, thị trường vốn còn sơ khai, trong khi hệ thống ngân hàng gần như là kênh dẫn vốn chủ đạo. Việc nâng giới hạn được xem như công cụ để mở rộng khả năng cấp vốn cho đầu tư và hỗ trợ phục hồi tăng trưởng.

Việc NHNN lựa chọn thời điểm hiện nay để nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn về lại mức 40% phản ánh sự dịch chuyển có chủ đích trong ưu tiên chính sách, từ mục tiêu tập trung vào an toàn hệ thống sang mục tiêu cân bằng với thiên hướng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Sau giai đoạn kéo dài siết chặt nhằm giảm rủi ro chênh lệch kỳ hạn, củng cố thanh khoản và thúc đẩy triển khai các chuẩn mực về quản trị rủi ro và an toàn vốn, nền kinh tế hiện đang bước vào chu kỳ có nhu cầu vốn đầu tư cao hơn đáng kể, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng, công nghiệp và các lĩnh vực cần nguồn vốn trung và dài hạn.

Biểu đồ 1: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (2013 – 1Q2026). Nguồn: FiinRatings

Trong các lựa chọn chính sách thì việc áp dụng biện pháp kỹ thuật này cũng có khía cạnh tích cực là hướng các NHTM ưu tiên cho tăng trưởng tín dụng trung dài hạn và có thể không nhất thiết làm tăng mạnh tổng tăng trưởng dư nợ tín dụng.

Theo tôi, giải pháp căn cơ vẫn sẽ là phải hướng đến tăng bộ đệm vốn cấp 1 và cấp 2 của các NHTM nhưng trong bối cảnh quy mô dư nợ tín dụng đã tiệm cận mức rủi ro cao thì việc điều chỉnh tỷ lệ này vì vậy có thể được xem là giải pháp nhằm giải phóng một phần dư địa bảng cân đối hiện hữu của hệ thống ngân hàng trong ngắn và trung hạn.

Thực tế, vào cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng trên GDP đã vượt ngưỡng 140% sau khí đã duy trì trên 100% kể từ 2017 và có xu hướng tăng dần qua các năm. Đây là ngưỡng đáng chú ý do đã bắt đầu tiệm cận mức rủi ro đối với một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, qua đó hạn chế khả năng tiếp tục mở rộng quy mô cho vay một cách ồ ạt.

Bên cạnh đó, rủi ro chênh lệch kỳ hạn (Maturity Mismatch) hiện đang tồn tại, khi khoảng 90% nguồn tiền gửi của khách hàng là ngắn hạn (dưới 12 tháng), hệ thống ngân hàng lại đang được kỳ vọng sẽ phải tài trợ cho một số dự án hạ tầng dài hạn với vòng đời có thể lên tới hoặc trên 20 năm.

Ở góc độ rộng hơn, sự điều chỉnh cũng phản ánh thực tế rằng thị trường vốn Việt Nam, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, dù đã có cải thiện nhưng vẫn chưa đạt quy mô đủ lớn để hấp thụ nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế.

Trong giai đoạn chuyển tiếp này, ngân hàng vẫn tiếp tục đóng vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo và do vậy, biện pháp chính sách này cũng sẽ góp phần giải bài toán nhu cầu vốn dài hạn trong bối cảnh hiện nay.

Mở thêm dư địa tín dụng đi kèm rủi ro kỳ hạn

Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40% sẽ tác động ra sao tới tăng trưởng tín dụng và nhóm ngân hàng nào được hưởng lợi?

Chuyên gia Nguyễn Anh Quân: Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn dự kiến sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng cho toàn hệ thống, đặc biệt ở các phân khúc có nhu cầu vốn kỳ hạn dài; qua đó, giúp cải thiện NIM của các ngân hàng – vốn hiện đã có xu hướng giảm trong một số năm gần đây.

Dĩ nhiên, điểm chúng ta cũng cần lưu ý là hồ sơ rủi ro tín dụng cũng sẽ tăng lên bởi về nguyên lý tín dụng dài hạn có mức độ rủi ro cao hơn so với tín dụng ngắn và trung hạn.

Do đó, chúng tôi cũng kỳ vọng việc thiết kế các chính sách liên quan đến các dự án hạ tầng trong đó có mô hình BT (xây dựng – chuyển giao) đang triển khai hiện nay và cả mô hình PPP (hợp tác công – tư) sẽ được xây dựng và thiết kế nhằm giảm rủi ro cho các dự án này.

Tác động sẽ không phân bổ đồng đều giữa các ngân hàng và không đồng nghĩa với việc toàn hệ thống sẽ mở rộng tín dụng tương ứng. Tôi cho rằng những ngân hàng được hưởng lợi rõ nhất nhiều khả năng là nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô trung bình, vốn có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhưng chịu giới hạn lớn hơn về cấu trúc nguồn vốn.

Đây thường là các ngân hàng có khả năng huy động vốn thấp hơn nhóm dẫn đầu, phụ thuộc nhiều hơn vào huy động có kỳ hạn và có danh mục tín dụng tập trung vào khách hàng cá nhân và/hoặc vào các ngành nghề, dự án có vòng quay vốn trong khoảng thời gian dài hơn.

Biểu đồ 2: Dư nợ cho vay (tỷ đồng, trục trái) và tốc độ tăng trưởng dư nợ của các NHTM (trục phải), cuối năm 2025. Nguồn: FiinRatings

Ngược lại, đối với các ngân hàng đã duy trì nền tảng thanh khoản mạnh, tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng ở mức thấp hoặc có dư địa vốn lớn, tác động có thể sẽ chưa rõ rệt trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, trong trung và dài hạn, chính sách này cũng có thể khiến mô hình kinh doanh của một số ngân hàng này dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng tài sản sinh lãi dài hạn và giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài, ít nhất trong giai đoạn đầu của chu kỳ.

Theo ông, việc nới tỷ lệ này có thể tạo ra những rủi ro gì đối với an toàn hệ thống ngân hàng?

Chuyên gia Nguyễn Anh Quân: Rủi ro từ việc nâng tỷ lệ, ngoài việc góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng tiếp tục tăng cao, còn nằm ở việc gia tăng mức độ chênh lệch kỳ hạn trong bảng cân đối kế toán của các ngân hàng.

Khi tỷ trọng vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn tăng lên, khả năng chống chịu thanh khoản của hệ thống trước các biến động trong hệ thống hay các cú sốc trong kinh tế sẽ có sự suy giảm.

Biểu đồ 3: Cấu trúc nguồn vốn và Tỷ lệ nguồn vốn ổn định (Stable funding) của ngành. Nguồn: FiinRatings

Trong điều kiện bình thường, chênh lệch kỳ hạn là đặc điểm tự nhiên của hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, trong bối cảnh tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động như những năm gần đây, một số ngân hàng ngày càng có sự phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn liên ngân hàng, phát hành giấy tờ có giá; xu hướng này dự kiến sẽ kéo dài áp lực thanh khoản và làm gia tăng chi phí vốn trong thời gian tới.

Về chất lượng tài sản, việc gia tăng cho vay trung, dài hạn sẽ không có tác động tiêu cực đến các chỉ số về chất lượng tài sản trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về bản chất, việc gia tăng cho vay trung, dài hạn cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng chấp nhận các khoản vay có chu kỳ thu hồi vốn dài hơn, độ bất định cao hơn và độ nhạy cảm lớn hơn với những biến động kinh tế khó dự đoán trong tương lai.

Điều này đặc biệt đáng lưu ý đối với các lĩnh vực có vòng đời đầu tư dài như hạ tầng, bất động sản hoặc sản xuất quy mô lớn.

Do đó, từ kinh nghiệm của FiinRatings trong việc đánh giá rủi ro tín dụng các dự án hạ tầng của Việt Nam thì việc thiết kế và đề xuất các cơ chế chính sách cho dự án của Chính phủ sẽ là yếu tố quan trọng làm cải thiện tính khả thi về tài chính (bankability) của dự án, qua đó giảm khả năng phải tái cơ cấu nợ hoặc rủi ro nợ xấu sẽ hình thành trong tương lai.

Chính sách này sẽ tác động ra sao tới dòng vốn và nhóm ngành nào có thể hưởng lợi khi ngân hàng mở rộng dư địa cho vay trung, dài hạn?

Chuyên gia Nguyễn Anh Quân: Những lĩnh vực được hưởng lợi nhiều nhất sẽ bao gồm hạ tầng, xây dựng, năng lượng, khu công nghiệp, sản xuất công nghiệp, bất động sản công nghiệp và một phần thị trường bất động sản dân cư có tính pháp lý hoàn thiện.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp quy mô lớn, có hồ sơ tín dụng tốt và khả năng hấp thụ vốn cao cũng sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc triển khai kế hoạch đầu tư dài hạn của họ.

Tuy nhiên, việc mở rộng tín dụng không đồng nghĩa với việc rủi ro phân bổ vốn giảm đi. Trong môi trường tăng trưởng cao, chất lượng tăng trưởng tín dụng và năng lực lựa chọn khách hàng (credit allocation) của từng ngân hàng sẽ trở thành yếu tố phân hóa quan trọng hơn.

Triển vọng tích cực cho thị trường vốn

Việc mở rộng tín dụng ngân hàng tác động thế nào tới thị trường vốn và quá trình đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn?

Chuyên gia Nguyễn Anh Quân: FiinRatings đánh giá tích cực nhiều hơn đối với hai kênh còn lại của thị trường vốn là huy động trái phiếu doanh nghiệp và huy động vốn cổ phần trên thị trường chứng khoán (TTCK).

Lý do là các dự án hạ tầng lớn mà chính sách hiện nay nhắm đến đều có thể thiết kế cơ cấu vốn đa dạng, nhiều sản phẩm, bao gồm tín dụng dài hạn từ Ngân hàng, trái phiếu dự án và kênh huy động cổ phần qua TTCK hoặc kể cả vốn cổ phần của công ty chưa đại chúng.

Ngoài ra, khi các chính sách đang hướng đến việc khai thông tín dụng trung – dài hạn này cũng sẽ có điều kiện làm cải thiện điều kiện cho dự án hạ tầng đó hoặc doanh nghiệp chủ đầu tư có thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Hiện nay, UBCKNN và Bộ Tài chính cũng đang tham mưu, dự thảo Nghị định về phát hành trái phiếu hạ tầng (PPP). Nếu chính sách này sớm được ban hành thì sẽ là một biện pháp góp phần giải quyết có tính đồng bộ về vốn cho các dự án hạ tầng của Việt Nam.

Tuy nhiên, ở góc nhìn dài hạn, để đáp ứng tối nhất nhu cầu vốn dài hạn của các dự án hiện nay thì việc phát triển thị trường vốn, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp vẫn nên là kênh chủ đạo thay vì phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và dòng vốn ngoại ngắn hạn với lãi suất biến động rất mạnh như thời gian vừa qua.

Về dài hạn, FiinRatings đánh giá thế nào về cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro khi nâng tỷ lệ này lên 40%? Đây là điều chỉnh chu kỳ hay định hướng mới?

Chuyên gia Nguyễn Anh Quân: Như đề cập ở trên, việc nâng tỷ lệ lên 40% phù hợp với bối cảnh hiện tại nhưng nhiều khả năng mang tính chu kỳ hơn là thay đổi cấu trúc dài hạn trong định hướng quản lý ngân hàng.

Đây là sự điều chỉnh nhằm gia tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế trong giai đoạn tăng trưởng cao, thay vì tín hiệu đảo ngược triết lý của quá trình quản lý điều hành và nâng chuẩn an toàn hệ thống.

Về dài hạn, xu hướng chung của ngành ngân hàng Việt Nam vẫn là tăng cường yêu cầu vốn, quản trị thanh khoản và áp dụng các tiêu chuẩn tiệm cận với quốc tế. Điều đó đồng nghĩa với việc các ngân hàng sẽ ngày càng phải dựa nhiều hơn vào nguồn vốn chủ, các nguồn vốn dài hạn và các công cụ thị trường thay vì mở rộng chênh lệch kỳ hạn.

Từ góc độ xếp hạng tín nhiệm, tôi cho rằng quyết định này là một sự đánh đổi có chủ đích: chấp nhận gia tăng mức độ sử dụng bảng cân đối trong ngắn hạn để hỗ trợ tăng trưởng, nhưng đổi lại đòi hỏi năng lực quản trị rủi ro, quản trị tài sản - nguồn vốn và bộ đệm thanh khoản phải được củng cố tương ứng nhằm duy trì khả năng chống chịu của hệ thống trong các chu kỳ tiếp theo.

Xin cảm ơn ông!

Nam Hải

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ