Những người giữ ký ức

Bên bến sông Thu Bồn, làng mộc Kim Bồng từng phát triển cùng quá trình dựng nhà, mở phố ở Hội An. Ảnh: TRÂM ANH
Tinh hoa nghề gốm
Tìm về làng gốm Thanh Hà và làng mộc Kim Bồng, chúng tôi lần theo câu chuyện của những nghệ nhân còn lưu giữ ký ức sâu đậm về nghề. Mỗi làng nghề có một hành trình riêng, nhưng cùng đứng trước một khoảng trống ngày càng rõ: lớp người am tường kỹ thuật, nếp lao động và đời sống làng nghề xưa đang dần thưa vắng.
Ở Thanh Hà, việc tìm gặp một nghệ nhân cao tuổi không dễ. Sau nhiều lần hỏi thăm, chúng tôi gặp nghệ nhân Nguyễn Lành, năm nay đã 95 tuổi. Theo mạch nhớ của ông Lành, hình bóng làng gốm xưa dần hiện lên bên dòng Thu Bồn. Theo lời truyền lại trong làng, khoảng thế kỷ 16, những cư dân từ Thanh Hóa, Nghệ An tìm đến vùng đất này lập nghiệp. Họ mang theo kinh nghiệm làm gốm, dựng lò, truyền nghề, rồi từng bước gây dựng nên một làng nghề qua nhiều thế hệ.
Những năm thương cảng Hội An hưng thịnh cũng là quãng thời gian lửa gốm Thanh Hà cháy rực nhất. Các lò nung đỏ lửa suốt ngày đêm. Dấu tích của thời phồn thịnh ấy đến nay vẫn nằm lại trên chính mảnh đất Thanh Hà.
Người dân, kể cả lớp trẻ, vẫn quen gọi nơi mình sống là “xóm Mẻng”. Cái tên bắt nguồn từ vô số mảnh gốm vỡ, hay “mẻng sành”, tích tụ qua hàng trăm năm thành những lớp dày, bồi cao dần vùng đất ven sông. Đến nay, mỗi khi đào móng nhà sâu hơn 2m, người dân vẫn bắt gặp những lớp mẻng sành ken đặc, như từng tầng ký ức của làng nghề còn được thời gian cất giữ dưới lòng đất.

Nghệ nhân nhân dân Huỳnh Ri dõi theo từng đường đục của con trai (Nghệ nhân nhân dân Huỳnh Sướng). Ảnh: TRÂM ANH
Tiếng đục Kim Bồng vang xa
Rời “xóm Mẻng” Thanh Hà, xuôi theo dòng Thu Bồn về phía hạ lưu, tiếng đục, tiếng chàng lúc khoan thai, lúc rộn rã báo hiệu chúng tôi đã đến làng mộc Kim Bồng. Hơn 4 thế kỷ qua, những âm thanh ấy vẫn vang lên bên bến sông, đi cùng bao thế hệ thợ mộc lớn lên giữa mùi gỗ mới, bụi cưa và những đường chạm khắc tinh xảo.
Tuổi thơ của Nghệ nhân nhân dân Huỳnh Ri cũng bắt đầu từ những thân gỗ thô mộc ấy. Ngày qua ngày, ông say mê nhìn từng khúc gỗ qua bàn tay người thợ dần hóa thành cột, kèo, thuyền bè, vật dụng sinh hoạt và những mảng chạm trang trí công phu.
Tiếng đục gõ đều, mùi gỗ mới và hình ảnh những người thợ cúi mình bên mặt ván đã gieo vào lòng ông tình yêu với nghề. Sau này, ông trở thành truyền nhân đời thứ 12 của dòng họ Huỳnh, tiếp nối mạch nghề được gìn giữ và bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Tay nghề nổi tiếng khiến những người thợ Kim Bồng quanh năm rong ruổi theo các công trình, từ phố Hội, kinh thành Huế đến nhiều vùng miền khác. Có chuyến đi kéo dài hàng tháng, thậm chí cả năm, khiến bữa cơm sum họp cùng vợ con trở thành điều hiếm hoi. Họ đã mang tài hoa Kim Bồng đi dựng nhà, đóng thuyền, chạm khắc khắp mọi miền. Chính những chuyến đi ấy góp phần làm nên danh tiếng của làng nghề.
Nhưng sau những biến động của đời sống, lớp thợ lành nghề ngày càng thưa vắng. Có thời điểm, tiếng bào, tiếng đục trong làng cũng dần lắng xuống.
Trước khoảng trống ấy, ông Ri hiểu rằng giữ nghề không chỉ là tiếp tục làm ra sản phẩm, mà còn phải tìm người nối nghiệp. Năm 1996, ông trực tiếp truyền dạy cho 30 thanh niên địa phương, từ cách chọn gỗ, cầm đục, xem thớ đến chạm khắc và hoàn thiện sản phẩm. Một năm sau, cơ sở của ông nhận được sự hỗ trợ của UNESCO để tiếp tục đào tạo thợ trẻ, góp phần khôi phục làng nghề và nối lại âm thanh từng làm nên ký ức Kim Bồng.

Nghệ nhân Dương Ngọc Tiển bền bỉ gắn bó với nghề đúc đồng. Ảnh: TRÂM ANH
Âm sắc Phước Kiều
Trong bán kính khoảng 10km quanh thành La Qua xưa, giữa đồng bằng hạ lưu sông Thu Bồn, Phước Kiều là làng đúc đồng lâu đời của vùng đất Thanh Chiêm, nay thuộc phường Điện Bàn. Nếu người thợ gốm cảm đất bằng đầu ngón tay, người thợ mộc đọc thớ gỗ qua từng đường đục, thì với người làm chiêng Phước Kiều, phần tinh túy nhất của nghề lại nằm ở đôi tai.
Câu truyền tụng “Nhất trống Lâm Yên, nhì chiêng Phước Kiều” phần nào cho thấy danh tiếng của làng nghề trong đời sống dân gian xứ Quảng. Nghệ nhân ưu tú Dương Ngọc Tiển, một trong những người gắn bó lâu năm với nghề đúc đồng ở Phước Kiều, kể rằng những cư dân đến vùng đất này lập nghiệp đã mang theo kỹ thuật đúc đồng, rèn công cụ và chế tác vật dụng phục vụ đời sống.
Qua nhiều thế hệ, từ những lò lửa Phước Kiều, lư hương, chân đèn, đồ thờ cúng cùng nhiều vật dụng dân sinh lần lượt ra đời. Nhưng sản phẩm đưa tên tuổi làng nghề đi xa nhất vẫn là cồng chiêng. Từ Phước Kiều, những bộ cồng chiêng theo đường lên miền ngược, hiện diện trong lễ hội, nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng ở Trường Sơn - Tây Nguyên.
Từ năm 1985, ông Tiển bắt đầu những chuyến đi lên Tây Nguyên, mang theo sản phẩm của làng và dành nhiều thời gian sống cùng các buôn làng. Ông quan sát cách đồng bào diễn tấu, lắng nghe tiếng chiêng trong lễ hội, nghi lễ rồi ghi nhớ từng khác biệt về độ vang, độ trầm và nhịp âm. Những trải nghiệm ấy giúp ông hiểu yêu cầu về âm sắc của từng cộng đồng để điều chỉnh sản phẩm cho phù hợp.
Với ông Tiển, một chiếc chiêng chỉ thật sự hoàn chỉnh khi tiếng ngân của nó hòa vào không gian văn hóa nơi sẽ cất lên. Người thợ vì thế không chỉ tạo nên hình hài của nhạc cụ mà còn phải “đúc” được cả âm sắc và tinh thần của cộng đồng sử dụng nó. Đó là phần khó nhất của nghề, không thể chỉ đo bằng khuôn, độ dày hay tỷ lệ hợp kim, mà còn phụ thuộc vào kinh nghiệm nghe, chỉnh và ghi nhớ âm thanh được tích lũy qua nhiều năm.
TRÂM ANH - HỮU TRUNG
39 phút trước
32 phút trước
35 phút trước
2 phút trước
9 phút trước
20 phút trước
22 phút trước
23 phút trước
25 phút trước
28 phút trước
28 phút trước