Kết quả khai quật trạm Nam Chơn, đồn Chơn Sảng:Giải mã tuyến phòng thủ Đà Nẵng dưới chân đèo Hải Vân
Những phát hiện mới không chỉ cung cấp minh chứng vật chất xác thực về hệ thống phòng thủ Đà Nẵng thời Nguyễn mà còn góp phần khẳng định vai trò của hai công trình trong phòng tuyến từng làm nên chiến thắng lịch sử trước liên quân Pháp - Tây Ban Nha.

Di tích đồn Chơn Sảng, hiện trạng xuất lộ di tích đồn Chơn Sảng
Lộ diện hệ thống phòng thủ gần như nguyên vẹn
Ban quản lý Di tích và Danh thắng TP Đà Nẵng cho biết, vừa qua, đơn vị đã phối hợp với Viện Khảo cổ học thực hiện đợt khai quật khẩn cấp kéo dài 45 ngày đối với di tích trạm Nam Chơn và đồn Chơn Sảng trên địa bàn phường Hải Vân với tổng diện tích 600m2. Theo báo cáo kết quả sơ bộ, từ thực tế hiện trường, ghi nhận hiện trạng tại hai di tích rất khác nhau về cấu trúc mặt bằng.
Tại di tích trạm Nam Chơn, cấu trúc mặt bằng nền móng còn khá nguyên vẹn, ngoại trừ phía Đông Nam đã bị phá hủy. Trên phạm vi sáu hố khai quật, ngoại trừ hố H4, các hố còn lại đều phát hiện vết tích nền móng kiến trúc bờ kè, tường thành, hệ thống kè đá nhiều cấp, nền kiến trúc trung tâm lát gạch cùng chân tảng đá kê cột của công trình thời Nguyễn. Bên cạnh đó, phát hiện được 904 hiện vật có niên đại từ thời Trần (thế kỷ XIV) đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX) như đồ gốm men trắng, hoa lam, men nâu Trung Quốc (thời Thanh), Nhật Bản, châu Âu, đồ sành thời Trần, Lê sơ, Trung hưng, thời Nguyễn,... và vật liệu đất nung.
Khác với Nam Chơn, di tích Chơn Sảng gần như chưa có tác động sinh hoạt của con người, các yếu tố tự nhiên tác động đến di tích cũng ít hơn. Dấu tích Chơn Sảng đã thể hiện cấu trúc dạng đồn với vai trò kiểm soát con đường thiên lý, ở đó, hướng của các công trình đều nhắm đến việc bao quát tuyến đường thiên lý lên Hải Vân quan: Dấu tích bờ kè mặt Tây Nam, các trạm gác ở góc Tây và góc Nam đều hướng ra đường thiên lý nằm gần đó.
Quá trình khai quật phát hiện 60 di vật, trong đó hiện vật quan trọng nhất là bức phù điêu bằng đá sa thạch nằm ở lớp đào thứ hai của hố H2, thể hiện một vị thần đang ngồi ở tư thế thiền, có thể thuộc văn hóa Chămpa, niên đại khoảng trước thế kỷ IX. Đây là hiện vật sớm nhất và khác hoàn toàn về tính chất và niên đại so với di tích đồn Chơn Sảng.

Phù điêu tượng bằng đá sa thạch phát hiện tại di tích Chơn Sảng
Hai “mắt xích” quan trọng của tuyến phòng thủ Đà Nẵng
Từ kết quả khai quật khẩn cấp, bước đầu đoàn khai quật có những nhận xét sơ bộ làm rõ quy mô, cấu trúc của hai di tích trạm Nam Chơn và đồn Chơn Sảng, củng cố bằng chứng về hệ thống phòng thủ góp phần làm nên chiến thắng trước liên quân Pháp - Tây Ban Nha tại Đà Nẵng.
Theo đó, việc xuất lộ nền móng các công trình đã khẳng định tính xác thực của các nguồn tư liệu: Bản đồ, sử liệu, tư liệu phương Tây về di tích trạm Nam Chơn và đồn Chơn Sảng. Giá trị đầu tiên và là nền tảng của các di tích này nằm ở chính độ xác thực của hệ thống tư liệu chứng thực. Khác với nhiều phế tích chỉ được biết đến qua truyền khẩu hoặc một nguồn đơn lẻ, Nam Chơn và Chơn Sảng được ghi nhận đồng thời trong cả ba dòng tư liệu độc lập, và quan trọng hơn, các dòng ấy không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau.
Bản đồ Ponchalon là một chứng cứ hình ảnh có sức nặng đặc biệt vì nó được lập bởi người trong cuộc, với mục đích quân sự đòi hỏi độ chính xác địa hình cao. Trên bản đồ này, các công trình ở chân Nam Hải Vân được phân biệt rõ bằng ký hiệu và chú thích trên bản đồ phòng thủ Đà Nẵng, vẽ thời Tự Đức, được người Pháp chú thích: Pagode fortifieé hay fort royal de Nam Kiên (Nam Chơn), fort de Kien- Chang (Chơn Sảng) và fort du Mamelon (Định Hải). Việc người Pháp gọi một công trình là pagode fortifieé, chùa được pháo đài hóa, Nam Chơn là chỉ dấu quan trọng: Mô tả một kiến trúc đá kiên cố, có tường bao khép kín kiểu thành lũy, khác hẳn loại đồn lũy đắp đất, tre.
TS Phạm Văn Triệu (Viện Khảo cổ học) nhìn nhận: Tính toàn vẹn của một di tích khảo cổ được đo bằng mức độ còn giữ được các thành phần cấu trúc cốt lõi và mối quan hệ không gian giữa chúng. Xét trên tiêu chí này, di tích trạm Nam Chơn và đồn Chơn Sảng đã thể hiện một mức độ bảo tồn gần như nguyên vẹn so với phần lớn di tích phòng thủ cùng thời ở Đà Nẵng, vốn nhiều nơi đã bị san phẳng hoặc chồng lấp bởi xây dựng qua các thời kỳ và thời hiện đại.
Tại đây còn nhận diện được tương đối đầy đủ ba thành phần kinh điển của một công trình phòng thủ, dịch trạm kiểu Nguyễn: Tường thành (lũy đá bao quanh) được kè bằng đá, hệ thống hào và bờ thành ngoài (tường ngoài). Sự hiện diện đồng thời của cả thành, hào ở Nam Chơn là điều rất đặc biệt thể hiện tính chất quan trọng bậc nhất của di tích, bởi đó chính là kết cấu cho phép phân biệt một công trình xây dựng kiên cố, có quy hoạch, với những đồn lũy.
Giá trị làm nên bản sắc riêng của Nam Chơn, Chơn Sảng là ở chỗ nó không lặp lại bất kỳ công trình nào khác trong vành đai phòng thủ Đà Nẵng về tổ hợp quy mô, cấu trúc, kỹ thuật và vật liệu. Về vật liệu và kỹ thuật, các di tích ở đây thuộc loại lũy đắp bằng đất, kè đá xung quanh, các công trình được xây dựng bằng tre, xây bằng kỹ thuật đá xếp khan (xếp đá không dùng vữa), một kỹ thuật bản địa khai thác trực tiếp nguồn đá núi Hải Vân tại chỗ.
Về cấu trúc, sự tồn tại của các lớp thành, hào, hoặc kè đá tạo thành các cấp kè là điểm độc đáo. Đây không phải bố cục của một pháo đài thuần túy, cũng không phải của một đồn lũy dã chiến. Các di tích ở đây đảm trách những vai trò và có vị trí khác nhau. Nam Chơn mang dáng dấp của một công trình lưỡng dụng, vừa là dịch trạm với chức năng hành chính, giao thông, vừa được gia cố để có khả năng phòng thủ. Chơn Sảng lại là một công trình có tính chất chuyên biệt cao, đơn thuần đảm trách chức năng quân sự, kiểm soát vịnh Hàn và đường thiên lý Bắc-Nam lên Hải Vân quan.
“Cùng với hệ thống các di tích khác như pháo đài Định Hải, thành An Hải, thành Điện Hải,… các di tích đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng hệ thống phòng thủ vịnh Hàn, là những bộ phận quan trọng trong cấu trúc phòng thủ Đà Nẵng, góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt của quân dân nhà Nguyễn trong cuộc đối đầu và chiến thắng lịch sử trước liên quân Pháp - Tây Ban Nha”, báo cáo cho biết.
Vành đai phòng thủ vịnh Đà Nẵng giữa thế kỷ XIX là một tổ chức không gian quân sự có nhiều lớp, phân bố từ cửa biển vào sâu nội địa và từ chân Nam Hải Vân xuống tới tả, hữu ngạn sông Hàn. Giá trị của Nam Chơn, Chơn Sảng không thể đánh giá tách rời khỏi hệ thống mà nó là một bộ phận.
Ở đó, Chơn Sảng là đồn trú quân cơ động; Nam Chơn vừa là trạm dịch bảo đảm thông tin, hậu cần, vừa là điểm tựa kiên cố bằng đá. Chơn Sảng và Nam Chơn là những dấu tích bằng chứng xác thực nhất khẳng định vị trí và vai trò yết hầu cực kỳ quan trọng trên con đường kết nối giữa kinh đô Huế và vùng đất phía Nam.
Từ kết quả khai quật và nghiên cứu nhận xét bước đầu, đoàn khai quật đề xuất thực hiện bảo vệ khẩn cấp đối với hai di tích. Cùng với đó, thực hiện khai quật, nghiên cứu tổng thể, toàn diện và xây dựng hồ sơ khoa học đầy đủ về trạm Nam Chơn và đồn Chơn Sảng nhằm cung cấp các tư liệu khách quan góp phần đánh giá giá trị của những di tích này trong diễn trình lịch sử của Đà Nẵng nói riêng và lịch sử của tiến trình Nam tiến và kiểm soát không gian lãnh thổ của người Việt về phương Nam từ thế kỷ XVI.
Đồng thời đề xuất kết hợp giữa khai quật khảo cổ truyền thống với ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại. Đối với khu vực trung tâm, cần khai quật tổng thể nhằm làm rõ quy mô, kết cấu của công trình kiến trúc trung tâm, nhất là tại di tích Nam Chơn. Đối với phạm vi xung quanh, thực hiện khai quật theo điểm kết hợp với ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ rada xuyên đất, tức khảo cổ học không phá hủy, nhằm bảo tồn tối đa các di tích trong lòng đất.
THU HOÀI
1 giờ trước
1 giờ trước
7 phút trước
3 phút trước
9 phút trước
15 phút trước
18 phút trước
19 phút trước
22 phút trước
23 phút trước
35 phút trước
41 phút trước
44 phút trước
45 phút trước
51 phút trước