🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Kỳ 1 - Văn hóa kết chạ tại Hà Nội: Từ nếp xưa đến cốt cách Tràng An

3 giờ trước

VĂN HÓA KẾT CHẠ TẠI HÀ NỘI:

TỪ NẾP XƯA ĐẾN CỐT CÁCH TRÀNG AN

Hà Nội là đô thị nghìn năm tuổi, nhưng một phần quan trọng của Thủ đô hôm nay được hình thành từ những làng cổ ven sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ. Cùng với đình, chùa, lễ hội, nghề truyền thống…, tục kết chạ là một trong những thiết chế văn hóa đặc sắc nhất của làng Việt. Suốt hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm, những lời giao ước giữa các cộng đồng đã tạo nên một mạng lưới nghĩa tình, nơi con người biết coi trọng chữ tín, lễ nghĩa, sự sẻ chia và trách nhiệm với cộng đồng. Những giá trị ấy không chỉ thuộc về quá khứ mà vẫn đang hiện diện trong đời sống hôm nay, góp phần bồi đắp cốt cách thanh lịch, văn minh của người Hà Nội. Loạt bài không chỉ kể câu chuyện về một phong tục cổ, mà đi tìm câu trả lời: Vì sao một lời hẹn ước của những ngôi làng có thể sống bền suốt nhiều thế kỷ, và những giá trị ấy còn có ý nghĩa gì đối với Hà Nội hôm nay?

Kỳ 1:

"Quan anh đã về" -

Tiếng gọi nghìn năm ở Thăng Long – Hà Nội

Một hồi trống vang lên, con đường dẫn vào Đình Chính Vạn Phúc (Thanh Trì cũ, nay thuộc xã Nam Phù, Hà Nội) được kết bởi hai hàng người náo nức, từ những cụ cao niên tóc bạc đến những em nhỏ trong trang phục truyền thống, đều hướng ánh mắt về phía đầu làng. Khi đoàn người từ Nga My ( thuộc xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai cũ, nay thuộc xã Thanh Oai, Hà Nội) xuất hiện, không ai gọi tên làng, cũng chẳng xưng hô bằng chức danh. Chỉ một tiếng gọi vang lên, trang trọng mà thân thuộc: "Quan anh đã về! Chúng em chào đón quan anh!"

Cử lễ, đón các "Quan anh" về làng! (Video: Lục Hường - Việt Anh)

Tiếng gọi ấy đã được gìn giữ hàng nghìn năm. Nó không chỉ mở đầu cho một nghi lễ, mà còn mở ra ký ức về một lời hẹn giữa hai cộng đồng cư dân, về một cách ứng xử lấy nghĩa tình làm gốc, lấy sự sẻ chia làm nền tảng. Giữa một Hà Nội đang chuyển mình từng ngày, tiếng gọi ấy vẫn ngân vang như lời nhắc rằng, đằng sau dáng hình của một đô thị hiện đại là những lớp trầm tích văn hóa được bồi đắp từ các làng quê ven sông, nơi con người đã biết gắn bó với nhau bằng đạo nghĩa từ hàng thế kỷ trước.

Tiếng gọi "Quan anh" giữa Hà Nội hôm nay

Con đường làng Vạn Phúc trong chiều tháng Bảy rợp cờ hội. Tiếng trống, tiếng nhạc lễ hòa cùng tiếng nói cười của người dân tạo nên bầu không khí rộn ràng của ngày hội lớn.

Từ xa, đoàn xe của làng Nga My (Thanh Mai) chầm chậm tiến vào. Ngày nay, quãng đường gần ba mươi cây số không còn là hành trình của những đôi gióng gánh hay những chiếc thuyền vượt sông như thuở trước. Nhưng khi những cánh cửa xe vừa mở ra, cảm giác đầu tiên không phải là sự hiện đại của những chiếc ô tô. Mà là sự nguyên vẹn của một nghi lễ đã được gìn giữ gần một thiên niên kỷ.

Các cụ cao niên trong trang phục tế lễ bước xuống trước với áo the đen, khăn xếp, áo the đỏ, khăn xếp, áo the vàng, khăn xếp và hàng trăm gương mặt hiền từ như những con người bước ra từ bao câu chuyện cổ tích giữa đời thường.

Đoàn nhạc lễ và hàng dài nhân dân đón các "Quan anh"

Những bước chân chậm rãi nhưng đầy trang nghiêm như vừa gợi lên không gian lễ hội nhưng cũng có gì đó thân thiết, gần gũi mà chỉ những người dân hai làng mới cảm nhận được đầy đủ và trọn vẹn nghĩa tình. Theo sau là đoàn đại biểu, những người dân trong làng Vạn Phúc, người mặc áo dài truyền thống, người trong bộ vest chỉnh tề, những em nhỏ trong bộ đồng phục học sinh đứng ngay ngắn hai bên lối đón, đôi mắt ánh lên niềm háo hức. Không ai bảo ai. Tất cả đều đứng nghiêm chỉnh hai bên nhường lối đi giữa cho Quan anh, và ai cũng giữ gương mặt vui tươi dù trời nắng nóng, tay vỗ liên hồi không hề mệt mỏi, họ như đón chính những người thân lâu ngày trở về.

Một hồi trống vang lên. Rồi hai hồi. Ba hồi.

Âm thanh của đội trống hội dội vào không gian Đình Chính Vạn Phúc, hòa cùng tiếng chiêng, tiếng nhạc lễ tạo nên một bầu không khí vừa linh thiêng, vừa rộn ràng. Đại diện làng Vạn Phúc tiến lên vài bước: chắp tay cung kính, trang nghiêm và mỉm cười rồi cất cao tiếng gọi đã vang suốt gần một nghìn năm:

"Quan anh đã về!"

Trong khoảnh khắc ấy, dường như khoảng cách giữa hai ngôi làng không còn nữa. Đáp lại, đoàn làng Nga My đồng loạt cúi mình. Giọng các cụ cao niên trầm ấm:

"Chúng em kính chào các Quan anh."

Từ ngày tôi về làm dâu ở Vạn Phúc, tôi đã được nghe truyền thống này, và tiếng gọi quan anh có từ những ngày đầu hai làng nói chuyện với nhau, làng Nga My gọi người Vạn Phúc và quan anh, người Vạn Phúc gọi làng Nga My là quan anh và xưng chúng em, lúc nào cũng thật trân quý và nghĩa tình"

Bà Trần Thị Vân - một dân người làng Vạn Phúc

Trong cuộc gặp gỡ giữa đại diện hai làng, những lời chào được cất lên với sự kính trọng đặc biệt. Người làng này gọi người làng kia là "Quý đại huynh", là "Quan anh"; còn khi đáp lời, họ khiêm nhường xưng "chúng em". Cách xưng hô ấy không phải phép xã giao, cũng không phải lời dẫn của một nghi lễ. Nó là quy ước đã được gìn giữ suốt gần một nghìn năm, trở thành một phần trong nếp ứng xử của cộng đồng.

Các nghi lễ được thực hiện tại Đình chính Vạn Phúc (Xã Nam Phù, Hà Nội)

Ngồi giữa không gian cổ kính của ngôi đình, lắng nghe những tiếng gọi "Quý đại huynh", "Quan anh", "chúng em" vang lên tự nhiên trong từng câu chuyện, người ta có cảm giác như thời gian đang chậm lại. Những lớp bụi của phố thị hiện đại dường như lùi xa, nhường chỗ cho một không gian văn hóa của hàng nghìn năm trước. Ở đó, lễ nghĩa không nằm trong sách vở, mà hiện hữu trong từng lời ăn tiếng nói; sự kính trọng không được thể hiện bằng hình thức, mà bằng cách con người gọi nhau. Trầm tích văn hóa tưởng như lâu đời bị bao phủ bởi lớp bụi thời gian thì nét đẹp văn hóa ấy vẫn luôn đầy sức sống trong tư duy và tâm tưởng mỗi con người, mỗi thế hệ bằng cách thức đơn giản là hướng về và nhớ đến.

Ở Vạn Phúc, người Nga My là "Quan anh". Đến Nga My, người Vạn Phúc cũng được đón bằng chính sự cung kính ấy. Hai tiếng "Quan anh", cùng cách xưng "chúng em", không đơn thuần là một nghi thức lễ hội mà đã trở thành một quy ước văn hóa được truyền từ đời này sang đời khác như lời nhắc nhở về mối giao hảo chưa bao giờ đứt đoạn.

Trong dòng người đứng đón hôm ấy có những cụ già đã ngoài tám mươi tuổi, có những người trung niên từng nhiều lần theo cha mẹ đi "thăm Quan anh", và có cả những em học sinh lần đầu được chứng kiến nghi lễ kết chạ. Ba thế hệ đứng cạnh nhau, cùng thực hiện một nghi thức giống hệt cha ông mình đã làm từ nhiều thế kỷ trước.

Khung cảnh ấy khiến người ta nhận ra rằng, có những giá trị văn hóa không cần được lưu giữ trong bảo tàng. Chúng vẫn đang sống, đang hiện diện trong từng lời chào, từng cái cúi đầu, từng cách xưng hô và từng bước chân đi giữa sân đình.

Điều gì đã khiến hai cộng đồng cách nhau gần ba mươi kilômét vẫn giữ được một tiếng gọi chung suốt gần một nghìn năm?

Câu trả lời bắt đầu từ một con đê ven sông Hồng.

Câu chuyện kết chạ của hai ngôi làng cách nhau 30km (Video: Lục Hường - Việt Anh)

Từ một con đê giữ nước đến lời hẹn nghìn năm

Nếu tiếng gọi "Quan anh" là điều người ta cảm nhận được trong ngày hội, thì phía sau tiếng gọi ấy là cả một câu chuyện đã được lưu truyền qua gần một thiên niên kỷ.

Theo thần phả, gia phả và nhiều nguồn tư liệu Hán Nôm còn lưu giữ tại hai làng, mối giao hảo giữa Vạn Phúc và Nga My được hình thành từ thời Lý, trong những năm đầu Thăng Long trở thành kinh đô của đất nước. Đó là thời kỳ vùng châu thổ sông Hồng liên tục phải đối mặt với lũ lụt, khi việc đắp đê, trị thủy không chỉ là câu chuyện của một làng mà là trách nhiệm chung của cả cộng đồng.

Tương truyền, đoạn đê vòng trên địa phận hai làng Việt Yên và Đông Trạch nhiều lần đắp rồi lại vỡ. Dân phu làng Nga My nhiều phen kiệt sức mà vẫn chưa thể giữ được con đê. Khi đoàn dân phu làng Vạn Phúc được điều đến cùng góp sức, đoạn đê cuối cùng cũng được hoàn thành. Để tỏ lòng biết ơn, dân làng Nga My đã làm một bữa cơm mời những người dân Vạn Phúc cùng chung mâm. Sau bữa cơm giản dị ấy, các bô lão hai làng bàn việc xin kết nghĩa huynh đệ. Đại diện chức dịch làng Nga My mang lễ vật sang Vạn Phúc, cáo yết Thành hoàng, bày tỏ lòng cảm tạ và xin được kết giao lâu dài. Lời thỉnh cầu ấy được chấp thuận, mở đầu cho một tục lệ đẹp tồn tại suốt hàng nghìn năm.

Trong nhiều cuộc trò chuyện với người dân địa phương, Nhà sử học Lê Văn Lan luôn dành sự trân trọng đặc biệt đối với tục kết chạ Vạn Phúc – Nga My. Theo ông, đây không đơn thuần là một phong tục của làng quê Bắc Bộ. Đó là một hiện tượng văn hóa đặc biệt. Nhà sử học Lê Văn Lan cho rằng: "Trong văn hóa làng Việt có nhiều nơi kết chạ, nhưng Vạn Phúc và Nga My là một trường hợp rất tiêu biểu bởi mối giao hảo ấy được duy trì gần một nghìn năm, vượt lên khoảng cách địa lý và những biến thiên của lịch sử."

Nhà sử học Lê Văn Lan

Nhà sử học Lê Văn Lan cũng nhấn mạnh rằng, nếu đình làng là nơi lưu giữ hồn cốt của một cộng đồng thì tục kết chạ lại là nơi lưu giữ đạo lý ứng xử giữa các cộng đồng. Theo ông: "Thăng Long không chỉ là kinh đô của quốc gia mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa làng Việt. Chính từ những làng quê ven kinh thành, những chuẩn mực về nghĩa tình, chữ tín, sự tương trợ và trách nhiệm cộng đồng đã được hình thành, bồi đắp rồi lan tỏa, góp phần tạo nên cốt cách thanh lịch, văn minh của người Hà Nội."

Ông cho rằng điều quý nhất của tục kết chạ không nằm ở tuổi đời của nó mà ở sức sống. Một thiên niên kỷ trôi qua, biết bao triều đại đổi thay, biết bao cuộc chiến tranh, biết bao biến động của lịch sử nhưng lời giao hẹn giữa hai làng vẫn còn. Điều ấy chỉ có thể được giữ gìn bằng lòng người.

Nhà sử học Lê Văn Lan cũng nhấn mạnh rằng, nếu đình làng là nơi lưu giữ hồn cốt của một cộng đồng thì tục kết chạ lại là nơi lưu giữ đạo lý ứng xử giữa các cộng đồng

Trong cuốn Nghĩa tình Vạn Phúc - Thanh Mai do hai địa phương biên soạn năm 2011, mối giao hảo ấy được khái quát bằng sáu chữ: "Thiên giao - Thần giao - Dân giao." Đó không chỉ là sự kết nối giữa hai cộng đồng cư dân, mà còn là sự hòa hợp giữa thiên nhiên, tín ngưỡng và con người - ba yếu tố đã làm nên nền tảng của văn hóa làng Việt suốt nhiều thế kỷ.

Giá trị của tục kết nghĩa ấy không chỉ tồn tại trong truyền thuyết. Công trình nghiên cứu của PGS.TS Bùi Xuân Đính và TS Nguyễn Thu Hiền đã công bố hệ thống bảy văn bản Hán Nôm còn lưu giữ tại đình hai làng, có niên đại từ thời Tự Đức đến Bảo Đại. Những văn bản ấy ghi chép việc mời nhau dự hội, xin phép mở lễ nghênh thần, quy định nghi thức đón tiếp, cũng như nhiều lần hai làng tương trợ nhau khi tu bổ đình, đền hay gặp khó khăn sau thiên tai.

Có thể nói, hiếm có một tục kết nghĩa nào vừa được lưu giữ bằng ký ức dân gian, vừa có hệ thống tư liệu lịch sử liên tục như trường hợp Vạn Phúc - Nga My.

Hiếm có một tục kết nghĩa nào vừa được lưu giữ bằng ký ức dân gian, vừa có hệ thống tư liệu lịch sử liên tục như trường hợp Vạn Phúc - Nga My

Nhưng giá trị lớn nhất của tục kết chạ không nằm ở tuổi đời của những văn bản cổ. Điều đáng quý hơn là sau gần một nghìn năm, những quy ước được ghi trong các văn bản ấy vẫn đang hiện diện trong đời sống.

Người dân hai làng vẫn gọi nhau là "Quan anh", "Quý đại huynh", khiêm nhường xưng "chúng em". Hai bên cùng kiêng tên húy Thành hoàng của nhau như một biểu hiện của sự tôn kính. Con cháu hai làng không kết hôn vì coi nhau là anh em ruột thịt. Mỗi khi một bên có việc trọng như mở hội, tu bổ đình chùa, việc hỷ, việc hiếu hay những sự kiện lớn của địa phương, bên còn lại đều cử đoàn sang chúc mừng hoặc chia sẻ.

Không một quy định pháp luật nào bắt buộc họ phải làm như vậy. Cũng không có bất kỳ chế tài nào nếu những quy ước ấy bị lãng quên. Điều gìn giữ tất cả chỉ là lòng tự nguyện của cộng đồng, là sự tôn trọng đối với lời hẹn của tiền nhân và niềm tự hào về cội nguồn văn hóa. Có những phong tục chỉ còn tồn tại trong sách sử. Có những lễ hội chỉ còn giữ lại phần nghi thức. Nhưng tục kết chạ Vạn Phúc - Nga My vẫn là một di sản sống. Sau những năm tháng gián đoạn bởi chiến tranh, mối giao hảo được nối lại từ đầu những năm 1980, từng bước phục hồi trên nền tảng các tư liệu Hán Nôm và ký ức của các bậc cao niên. Từ năm 1995, những cuộc thăm hỏi giữa hai địa phương được tổ chức thường xuyên hơn; không chỉ giới hạn trong phạm vi hai làng cổ mà mở rộng thành nghĩa tình giữa hai xã, rồi tiếp tục được gìn giữ sau những lần điều chỉnh địa giới hành chính. Điều đặc biệt là người dân làng My Dương - vốn không phải là làng kết nghĩa ban đầu - cũng tự nguyện tiếp nhận và gìn giữ mối giao hảo ấy như một phần truyền thống của quê hương.

Chúng tôi là những thế hệ đã công tác và luôn giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống, chúng tôi nghĩ rằng các bậc tiền nhân đã để lại cho Vạn Phúc – Nga My một mối giao hảo thắm thiết, đầm ấm mà khắp miền Bắc này không có nơi nào có được. Tình cảm giữa hai làng nảy sinh từ trong lao động chống thiên tai và khăng khít theo thời gian, chúng tôi tự hào về những truyền thống đi theo hai làng ngàn năm qua".

Ông Lê Đình Tuấn – Nguyên Chủ tịch UBND xã Thanh Mai cũ, Thôn Nga My Hạ

Cũng trong niềm xúc động, ông Lã Văn Cư - Tổ dân phố Nga My Hạ - Nguyên Bí thư Đảng ủy xã Thanh Mai bày tỏ: "Chúng tôi vui mừng khôn xiết khi được về thăm Quan anh Vạn Phúc trong lễ rước long trọng, chúng tôi cũng luôn mong chờ cơ hội được đón Quan anh tới làng Nga My để chia sẻ những ân tình đã nối dài tình nghĩa hai làng suốt ngàn năm qua"

Điều đó cho thấy, sức sống của một di sản không nằm ở việc nó đã tồn tại bao lâu, mà ở khả năng thích ứng với từng giai đoạn lịch sử mà vẫn giữ nguyên những giá trị cốt lõi. Và nét đẹp văn hóa ấy được giữ gìn bằng chính từng con người, từng người dân và sống giữa nét đẹp đời sống hàng ngày.

Từ câu chuyện của Vạn Phúc và Nga My, một không gian văn hóa rộng lớn hơn dần mở ra

Từ câu chuyện của Vạn Phúc và Nga My, một không gian văn hóa rộng lớn hơn dần mở ra. Bởi đây không phải là trường hợp duy nhất. Trên khắp vùng đất Hà Nội - nơi được hình thành từ hàng nghìn làng cổ ven sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ và sông Cầu - vẫn còn hàng trăm ngôi làng lưu giữ tục kết chạ với những nguồn gốc, nghi lễ và quy ước riêng. Có nơi kết nghĩa từ việc cùng trị thủy, có nơi bắt nguồn từ chung Thành hoàng, có nơi được hình thành từ sự tương trợ trong chiến tranh hay trong quá trình khai phá vùng đất mới. Mỗi câu chuyện là một mảnh ghép của văn hóa làng Việt. Mỗi lời hẹn là một cách để cộng đồng gắn kết với nhau bằng đạo nghĩa. Và từ tiếng gọi "Quan anh" của Vạn Phúc - Nga My, hành trình khám phá một trong những di sản đặc sắc nhất của các làng cổ Hà Nội mới thực sự bắt đầu.

Bài viết: Lục Yên

Video: Lục Hường - Việt Anh

Ảnh: Thanh Lê

TIN LIÊN QUAN




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ