🔍
Chuyên mục: Tài chính

Khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế

17 giờ trước
Nguồn vốn đầu tư trong cả giai đoạn 2026 - 2030 lên tới 38 triệu tỷ đồng, nhưng nguồn lực từ ngân sách nhà nước chỉ vào khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, tức là chỉ đáp ứng khoảng 20%; 80% còn lại buộc phải trông đợi vào nguồn vốn tư nhân và vốn quốc tế.

Bước sang năm 2026, nền kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là ảnh hưởng từ xung đột tại khu vực Trung Đông. Cuộc khủng hoảng năng lượng do đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu đã gia tăng áp lực lên lạm phát. Cùng với những ảnh hưởng tiêu cực từ bối cảnh bên ngoài, áp lực thanh khoản trong nước làm gia tăng chi phí vốn của nền kinh tế.

Trong bối cảnh đó, thị trường chứng khoán vẫn đạt nhiều thành quả đáng ghi nhận.

Tính đến 29/5/2026, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10.610,35 nghìn tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Số lượng tài khoản nhà đầu tư đã vượt con số 13 triệu, hoàn thành sớm mục tiêu đạt 11 triệu tài khoản đầu tư chứng khoán vào năm 2030 được đề ra tại Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán.

Hoạt động huy động vốn qua thị trường cổ phiếu cũng sôi động hơn hẳn giai đoạn trước. 5 tháng đầu năm, tổng giá trị phát hành cổ phiếu và chào bán lần đầu ra công chúng của các doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch đạt khoảng 289.500 tỷ đồng, tăng 86,5% so với năm 2025 và cao gấp 2,5 lần mức trung bình 5 năm gần đây.

Đáng chú ý, thị trường chứng khoán vừa ghi nhận dấu mốc quan trọng trên hành trình phát triển, đó là FTSE Russell xác nhận nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Quyết định nâng hạng có hiệu lực chính thức từ tháng 9/2026 kỳ vọng sẽ mở ra chương mới trong thu hút vốn ngoại của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Dẫu vậy, theo Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Bùi Hoàng Hải, để phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững trong giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn. Ước tính, nguồn vốn đầu tư trong cả giai đoạn 2026 - 2030 lên tới 38 triệu tỷ đồng, nhưng nguồn lực từ ngân sách nhà nước chỉ vào khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, tức chỉ đáp ứng khoảng 20%; 80% còn lại buộc phải trông đợi vào nguồn vốn tư nhân và vốn quốc tế.

Theo ông Hải, tỷ lệ tín dụng hiện tương đương khoảng 146% GDP không phải là vấn đề lớn nếu đặt trong bối cảnh so sánh quốc tế.

Điều đáng quan tâm là hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng Việt Nam hiện chỉ khoảng 12%, thấp hơn mức phổ biến từ 15-18% tại nhiều quốc gia. Bên cạnh đó là tình trạng lệch pha giữa nguồn vốn huy động chủ yếu ngắn hạn với nhu cầu cho vay trung và dài hạn.

Ông Hải cũng cho rằng thị trường chứng khoán và thị trường tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ. Khi lãi suất huy động tăng lên trên 10%, kéo theo lãi suất cho vay ở mức 13-15%, chi phí vốn của doanh nghiệp sẽ tăng, đồng thời ảnh hưởng đến thanh khoản và khả năng huy động vốn trên thị trường chứng khoán.

Ông Hải cho hay, các giải pháp phát triển thị trường vốn hiện được triển khai theo cả hướng trước mắt và lâu dài. Trong ngắn hạn là tiếp tục cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và mở rộng điều kiện tiếp cận đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Trong khi đó, các giải pháp nền tảng như hoàn thiện thể chế, phát triển sản phẩm mới hay nâng cao chất lượng nhà đầu tư sẽ cần thêm thời gian để phát huy hiệu quả.

Ông Đặng Thành Tâm - Chủ tịch Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc nêu quan điểm, khơi thông các dòng vốn cho nền kinh tế không chỉ nằm ở việc mở rộng nguồn cung vốn, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc cách thức dẫn vốn, nâng chất lượng doanh nghiệp và củng cố niềm tin của nhà đầu tư.

Theo ông Tâm, một nguyên tắc quan trọng là cần phân định rõ vai trò giữa các kênh dẫn vốn. Ngân hàng nên tập trung vào vốn ngắn hạn, bổ sung vốn lưu động và ưu tiên cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Còn các doanh nghiệp lớn nên tập trung phát hành trái phiếu, cổ phiếu và làm việc với các quỹ đầu tư lớn.

Bên cạnh đó, chất lượng hàng hóa trên thị trường vốn là yếu tố quyết định khả năng thu hút dòng tiền dài hạn. Theo đó, Việt Nam cần có thêm nhiều doanh nghiệp chất lượng, minh bạch hơn, đồng thời đẩy mạnh cổ phần hóa để bổ sung nguồn cung hàng hóa tốt cho thị trường chứng khoán.

Cũng theo ông Tâm, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn khi định hướng thu hút FDI đã chuyển từ mục tiêu số lượng sang chất lượng. Các chính sách mới đang hướng tới thu hút những dòng vốn gắn với công nghệ cao, tăng trưởng xanh, đổi mới sáng tạo và tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn tại Việt Nam.

Khi doanh nghiệp FDI nâng tỷ lệ nội địa hóa từ mức khoảng 40% lên cao hơn, nền kinh tế Việt Nam sẽ hưởng lợi nhiều hơn thông qua việc phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước.

H.Hương

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ