Hồ sơ số 55/2026: Tìm nơi an nghỉ của liệt sĩ Đặng Thế Hành và 4 đồng đội hy sinh tại Nam Lào

Ngày 13/9/1972, trên Cao nguyên Bôlôven, một tổ tuần tra của Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 19, Sư đoàn 968 bị máy bay địch phát hiện và ném bom. Năm cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh, trong đó có Hạ sĩ, Tiểu đội trưởng Đặng Thế Hành, quê Hà Tĩnh. Các liệt sĩ được đồng đội mai táng cẩn thận tại nghĩa trang đơn vị ở Km13, trên tuyến đường từ Paksoong đi Huội Coong. Hơn nửa thế kỷ qua, gia đình vẫn chưa biết phần mộ của ông đã được quy tập về đâu.
1- Người tiểu đội trưởng nằm lại trên Cao nguyên Bôlôven
Trong những ngày cuối tháng Bảy tri ân năm 2026, bà Đặng Thị Minh Huệ, hiện trú tại số 44 đường Trần Phú, thôn Hai Riêng, xã Sông Hinh, tỉnh Đắk Lắk, đã gửi thư tới Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm Người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI), đề nghị hỗ trợ tìm kiếm nơi an nghỉ của người chú ruột là liệt sĩ Đặng Thế Hành.
Liệt sĩ Đặng Thế Hành sinh năm 1952, quê thôn Nam Phú, xã Cẩm Long, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Cha là cụ Đặng Thế Mậu. Tháng 8/1969, khi mới 17 tuổi, người thanh niên Đặng Thế Hành lên đường nhập ngũ.
Theo hồ sơ gia đình và danh sách quân nhân hy sinh còn lưu giữ, ông thuộc Đại đội 7, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 19, Sư đoàn 968; cấp bậc Hạ sĩ, chức vụ Tiểu đội trưởng. Trong danh sách, đơn vị được viết tắt là “c7/d5”, phù hợp với thông tin Đại đội 7, Tiểu đoàn 5 mà gia đình cung cấp.
Năm 1972, đơn vị của ông làm nhiệm vụ trên chiến trường Nam Lào, tại khu vực Paksoong, tỉnh Champasak. Đây là vùng đất nằm trên Cao nguyên Bôlôven, nơi có vị trí quan trọng đối với tuyến vận chuyển chiến lược và từng diễn ra nhiều hoạt động quân sự ác liệt.
Ngày 13/9/1972, người lính trẻ Đặng Thế Hành hy sinh khi vừa tròn 20 tuổi. Dòng ghi chép về ông trong danh sách quân nhân hy sinh rất ngắn gọn: “Đi công tác bị bom - mai táng Km13 đường 223”. Chỉ vài chữ trên một trang giấy nhưng phía sau đó là cả một trận bom, năm người lính ngã xuống và hơn nửa thế kỷ thân nhân đi tìm nơi an nghỉ của họ.
Theo lời kể của cựu chiến binh Bùi Thượng Toản, người trực tiếp tham gia tổ tuần tra và may mắn sống sót, mùa mưa năm 1972, đơn vị đang chốt giữ, hoạt động tại khu vực Paksoong trên Cao nguyên Bôlôven. Ngày 13/9/1972, một tổ công tác gồm tám cán bộ, chiến sĩ được giao nhiệm vụ tuần tra, lùng sục địa bàn Bản 42, trên Đường 23 theo hướng từ Paksoong đi Pakse.
Khi tổ tuần tra đang trên đường trở về đơn vị, máy bay trinh sát L-19 của đối phương phát hiện đội hình. Sau đó, máy bay T-28 bay đến ném bom. Năm cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh.
2- Năm ngôi mộ bên tuyến đường từ Paksoong đi Huội Coong
Từ lời kể của nhân chứng và những tư liệu gia đình thu thập được, danh tính 5 người hy sinh trong trận bom ngày 13/9/1972 bước đầu được xác định gồm:
1.Đặng Thế Hành, Hạ sĩ, Tiểu đội trưởng, quê thôn Nam Phú, xã Cẩm Long, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
2.Lã Văn Toản, quê Cam Thượng, Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũ.
3.Bùi Văn Ngọc, quê Trung Hội, xã Thạch Hội, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
4.Nguyễn Văn Thụ, quê Trực Định, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định cũ.
5.Đồng chí Châu, cán bộ cấp trung đội, thường được gọi là “B trưởng”, quê huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Hiện gia đình chưa có đầy đủ họ tên và thông tin cá nhân của đồng chí.
Theo nhân chứng Bùi Thượng Toản, liệt sĩ Đặng Thế Hành được đồng chí Hán Văn Thanh, Trợ lý tác chiến Tiểu đoàn 5, quê Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, trực tiếp chôn cất.
Bốn liệt sĩ còn lại được y tá Tiểu đoàn 5 Nguyễn Xuân Bầm, quê Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, cùng đồng đội tổ chức mai táng.
Năm liệt sĩ được an táng tại nghĩa trang của đơn vị ở Km13, trên tuyến đường từ thị trấn Paksoong đi Huội Coong. Theo lời kể của người còn sống, thời điểm ấy khu vực đơn vị hoạt động đã được giải phóng và chưa bước vào một trận chiến đấu lớn. Bởi vậy, công việc mai táng được thực hiện tương đối cẩn thận, vị trí các ngôi mộ cũng được xác định rõ.
Chi tiết này mở ra hy vọng rằng sơ đồ nghĩa trang, danh sách mai táng hoặc nhật ký quân y, quân lực của Tiểu đoàn 5 và Trung đoàn 19 có thể vẫn còn được lưu giữ trong hồ sơ đơn vị hay trong tài liệu của các đội quy tập từng làm nhiệm vụ tại Nam Lào.
Tuy nhiên, quá trình đối chiếu tài liệu đang xuất hiện một điểm chưa thống nhất cần đặc biệt lưu ý. Đơn đề nghị của gia đình ghi nơi an táng ban đầu là Km13, Đường 232; trong khi ảnh chụp danh sách quân nhân hy sinh dường như ghi: “mai táng Km13 đường 223”.
Đây có thể là sự nhầm lẫn khi sao chép, cách ghi khác nhau của tuyến đường trong từng giai đoạn, hoặc cũng có thể do chữ số trên tài liệu chưa được đọc chính xác. Vì vậy, khi tra cứu và khảo sát thực địa, các cơ quan chuyên môn cần đồng thời kiểm tra cả hai ký hiệu Đường 223 và Đường 232, kết hợp với địa danh ổn định hơn là tuyến từ Paksoong đi Huội Coong.
Một manh mối khác cũng cần được quan tâm: trước khi hy sinh, liệt sĩ Đặng Thế Hành từng tham gia chôn cất đồng chí Hán Văn Thanh, Trợ lý tác chiến Tiểu đoàn 5. Chi tiết này cho thấy ông Hành có thể đã biết vị trí an táng của một đồng đội, nhưng chỉ ít lâu sau, chính ông lại nằm xuống và được những người còn sống mai táng tại nghĩa trang đơn vị.
Chiến tranh có những câu chuyện đau lòng như thế: người hôm trước tiễn đồng đội về với đất, hôm sau lại được đồng đội tiễn đưa.
3- Manh mối từ phần mộ mang tên Nguyễn Văn Thụ
Sau nhiều năm tự tìm kiếm, gia đình liệt sĩ Đặng Thế Hành vẫn chưa xác định được năm phần mộ tại Km13 đã được quy tập hay chưa. Nếu đã được đưa về Việt Nam, các liệt sĩ hiện an táng tại nghĩa trang nào, dưới danh tính đầy đủ hay trong những ngôi mộ chưa xác định được thông tin?
Gần đây, gia đình được biết tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 có một phần mộ mang tên Nguyễn Văn Thụ. Tuy nhiên, thông tin trên bia mộ không ghi quê quán và đơn vị, nên chưa đủ căn cứ khẳng định đây có phải là đồng chí Nguyễn Văn Thụ, quê Trực Định, Nam Ninh, Nam Định, người đã hy sinh cùng trận với liệt sĩ Đặng Thế Hành ngày 13/9/1972 hay không. Dù chưa thể kết luận, đây vẫn là một đầu mối đáng được kiểm tra.

Nếu hồ sơ quy tập phần mộ mang tên Nguyễn Văn Thụ còn lưu giữ, cơ quan chức năng có thể xác định địa điểm cất bốc, thời gian quy tập, đội quy tập thực hiện và danh sách những hài cốt được đưa về trong cùng đợt. Trường hợp phần mộ này được quy tập từ khu vực Km13, tuyến Paksoong - Huội Coong, rất có thể hồ sơ sẽ dẫn đến thông tin của bốn liệt sĩ còn lại.
Việc tìm kiếm vì thế không nên chỉ tiến hành riêng lẻ đối với liệt sĩ Đặng Thế Hành, mà cần đặt trong mối liên hệ với cả nhóm năm cán bộ, chiến sĩ hy sinh cùng ngày, cùng trận bom và được an táng trong một nghĩa trang đơn vị.
Mỗi danh tính là một đầu mối bổ trợ cho những người còn lại. Quê quán của các liệt sĩ trải dài từ Hà Tĩnh, Nghệ An, Hà Tây cũ đến Nam Định. Nếu thân nhân các gia đình cùng cung cấp giấy báo tử, trích lục quân nhân, thư từ, ảnh chân dung hoặc lời kể của đồng đội, việc đối chiếu hồ sơ có thể đạt kết quả rõ ràng hơn.
4- Khẩn thiết đề nghị tra cứu hồ sơ quy tập tại Nam Lào
Trong đơn gửi Dự án TTU-VWAI, bà Đặng Thị Minh Huệ kính đề nghị Ban Chỉ đạo 515 các cấp, Sư đoàn 968 và các cơ quan chức năng quan tâm thực hiện một số nội dung:
Trước hết, tra soát toàn bộ hồ sơ quy tập hài cốt liệt sĩ tại khu vực Km13, trên tuyến đường từ Paksoong đi Huội Coong, tỉnh Champasak, Lào; đồng thời kiểm tra cả hai ký hiệu tuyến đường đang có sự khác biệt trong tài liệu là Đường 223 và Đường 232.
Tiếp đó, kiểm tra hồ sơ của những đội quy tập từng thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn Nam Lào, đặc biệt là hồ sơ của Đội Quy tập 584, nhằm xác định nghĩa trang đơn vị tại Km13 đã được khảo sát, cất bốc hay chưa; nếu đã quy tập thì thực hiện vào thời gian nào, có bao nhiêu hài cốt và bàn giao về đâu.
Gia đình cũng đề nghị đối chiếu danh sách tiếp nhận hài cốt từ chiến trường Lào tại các nghĩa trang liệt sĩ trong cả nước, nhất là những nghĩa trang thuộc khu vực miền Trung; kiểm tra hồ sơ gốc của phần mộ mang tên Nguyễn Văn Thụ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9.
Bên cạnh hồ sơ quy tập, cần tiếp tục tìm kiếm những cựu chiến binh từng công tác tại Đại đội 7, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 19, Sư đoàn 968 trong năm 1972; xác minh lời kể của cựu chiến binh Bùi Thượng Toản và tìm thông tin về y tá Nguyễn Xuân Bầm, người trực tiếp tham gia chôn cất bốn liệt sĩ.
Nếu còn sống, những nhân chứng ấy có thể giúp phác họa sơ đồ nghĩa trang, khoảng cách từ nơi đóng quân đến vị trí mai táng, đặc điểm địa hình, hướng đường và những dấu tích từng được sử dụng để đánh dấu mộ.
Trong quá trình thực hiện “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, trường hợp liệt sĩ Đặng Thế Hành và bốn đồng đội là một hồ sơ có nhiều thông tin tương đối cụ thể: ngày hy sinh, hoàn cảnh hy sinh, đơn vị, nhân chứng, người trực tiếp chôn cất, địa danh và khoảng cách Km13.

Điều còn thiếu là sự kết nối có hệ thống giữa hồ sơ quân nhân, tài liệu của đơn vị, hồ sơ quy tập ở Lào và danh sách tiếp nhận tại các nghĩa trang trong nước.
Hơn 53 năm đã trôi qua kể từ trận bom ngày 13/9/1972. Người tiểu đội trưởng tuổi đôi mươi và bốn đồng đội vẫn đang được thân nhân mong ngóng trở về. Với gia đình, tìm được nơi an nghỉ của liệt sĩ không chỉ để hoàn thành một thủ tục, mà còn để những người đang sống có một địa chỉ cụ thể mà thắp hương, để sự hy sinh được ghi nhận đầy đủ và để hành trình chờ đợi qua nhiều thế hệ có ngày được khép lại.
Văn hóa tri ân bắt đầu từ việc không để bất cứ sự hy sinh nào bị lãng quên. Mỗi hồ sơ được mở lại, mỗi nhân chứng được tìm thấy, mỗi địa danh được xác minh đều có thể trở thành một nhịp cầu đưa những người lính trở về với quê hương, gia đình và tên tuổi của chính mình.
Mọi thông tin liên quan đến liệt sĩ Đặng Thế Hành và các cán bộ, chiến sĩ thuộc Đại đội 7, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 19, Sư đoàn 968 hy sinh ngày 13/9/1972 tại khu vực Paksoong, tỉnh Champasak, Lào, xin liên hệ: Bà Đặng Thị Minh Huệ. Địa chỉ: Số 44 đường Trần Phú, thôn Hai Riêng, xã Sông Hinh, tỉnh Đắk Lắk. Điện thoại: 0914 187 668.
Hà Nội, 31/7/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)
Đặng Vương Hưng
8 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
2 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước