Góc nhìn văn hoá: Đột phá giáo dục, kiến tạo tương lai
Vì thế, “phải tạo đột phá phát triển giáo dục và đào tạo” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ tại buổi làm việc sáng 25/8/2026 với các cơ quan liên quan đánh giá kết quả 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh hiện nay không đơn thuần là yêu cầu về một cuộc cải cách hành chính hay thay đổi chương trình, mà sâu xa hơn là đòi hỏi một sự chuyển biến về văn hóa giáo dục.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc sáng 25/8/2026 với các cơ quan liên quan đánh giá kết quả 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ảnh: TTXVN
Từ “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên” đến công bằng cơ hội học tập
Sau một năm triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, những kết quả bước đầu cho thấy một nền tảng quan trọng đã được tạo dựng. Chính sách miễn học phí được triển khai; một bộ sách giáo khoa thống nhất được thực hiện; mạng lưới trường mầm non, phổ thông cơ bản được sắp xếp; 108 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được xây dựng trong giai đoạn đầu, bổ sung 4.396 phòng học cho gần 113.000 học sinh. Đào tạo STEM và công nghệ chiến lược có chuyển biến, với hơn 32% sinh viên đại học nhập học năm 2026 theo học các ngành STEM. Chuyển đổi số cũng diễn ra mạnh mẽ khi hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý thông tin của khoảng 50.000 cơ sở giáo dục, hơn 27 triệu học sinh và trên 1,4 triệu giáo viên.
Những con số ấy có ý nghĩa rất lớn, bởi một nền giáo dục muốn phát triển trước hết phải có những điều kiện tối thiểu để mọi trẻ em được đến trường, mọi người thầy có môi trường làm việc và mọi người học có cơ hội tiếp cận tri thức. Nhưng nền tảng mới chỉ là điểm khởi đầu. Đột phá thực sự phải được nhìn thấy trong chất lượng con người được giáo dục.
Một trong những thông điệp có ý nghĩa văn hóa sâu sắc tại buổi làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu phải bảo đảm “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên”. Thoạt nhìn, đây là một bài toán về cơ sở vật chất và nhân lực. Nhưng ở tầng sâu hơn, đó chính là câu chuyện về công bằng xã hội và quyền được phát triển của mỗi con người.
Một đứa trẻ sinh ra ở thành phố, khu công nghiệp hay vùng sâu, vùng xa đều phải có cơ hội tiếp cận một nền giáo dục có chất lượng. Nếu nơi sinh ra quyết định quá nhiều đến chất lượng trường học, điều kiện học tập và cơ hội phát triển của một đứa trẻ, thì khoảng cách giáo dục sẽ dần trở thành khoảng cách về cơ hội sống.
Bởi vậy, việc ưu tiên vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời giải quyết tình trạng quá tải trường lớp tại các đô thị và địa bàn tăng dân số cơ học nhanh không chỉ là phân bổ lại nguồn lực. Đó còn là cách một xã hội thể hiện quan niệm của mình về công bằng và trách nhiệm đối với thế hệ tương lai.
Văn hóa giáo dục trước hết phải là văn hóa tôn trọng người học. Mỗi học sinh phải được nhìn nhận như một chủ thể có nhu cầu, năng lực, hoàn cảnh và tiềm năng riêng, chứ không phải đơn thuần là một con số trong bảng thành tích của nhà trường.
Từ góc nhìn ấy, “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên” mới là điều kiện cần. Điều kiện đủ là phải có trường học tốt, người thầy tốt và môi trường học tập khuyến khích trẻ em khám phá, suy nghĩ và trưởng thành.
Đây cũng là lý do yêu cầu chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện có ý nghĩa đặc biệt. Giáo dục vốn không thiếu những chủ trương hay chương trình. Điều xã hội chờ đợi là những thay đổi có thể cảm nhận được trong từng lớp học, từng giờ dạy, từng trải nghiệm của học sinh và trong chất lượng đội ngũ nhà giáo.
Đột phá phải bắt đầu từ việc thay đổi văn hóa dạy và học
Điểm quan trọng nhất của một cuộc đột phá giáo dục có lẽ không nằm ở việc chúng ta có thêm bao nhiêu đề án, bao nhiêu nền tảng công nghệ hay bao nhiêu bộ tiêu chí, mà nằm ở câu hỏi: Chúng ta đang muốn đào tạo những con người như thế nào?
Thông điệp rằng mục tiêu cuối cùng của giáo dục không phải điểm số, bằng cấp hay thứ hạng nhà trường đã chạm tới cốt lõi của vấn đề. Trong một thời gian dài, áp lực thi cử, thành tích và tâm lý chuộng bằng cấp có thể khiến việc học bị thu hẹp thành quá trình ghi nhớ kiến thức để vượt qua các kỳ thi. Khi đó, nhà trường dễ trở thành nơi truyền thụ một chiều, người học trở thành người tiếp nhận thụ động, còn sự tò mò, khả năng phản biện và tinh thần sáng tạo có nguy cơ bị xem nhẹ.
Muốn thay đổi điều đó, phải thay đổi cả “văn hóa học”. Học không chỉ để thi mà để hiểu; không chỉ để nhớ mà để biết vận dụng; không chỉ để có bằng cấp mà để có năng lực sống, năng lực làm việc và năng lực sáng tạo.
Yêu cầu giảm truyền thụ một chiều, học thuộc, học đối phó; tăng tự học, thực hành, trải nghiệm, tư duy độc lập, sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề vì thế không chỉ là một yêu cầu phương pháp. Đó là sự chuyển đổi từ một nền văn hóa giáo dục thiên về truyền đạt sang một nền văn hóa giáo dục phát triển năng lực con người.
Muốn vậy, người thầy cũng phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình đổi mới. Một nền giáo dục không thể đột phá nếu người thầy vẫn bị cuốn quá nhiều vào công việc hành chính, áp lực thành tích hoặc những yêu cầu mang tính hình thức. Người thầy cần có tri thức, bản lĩnh nghề nghiệp, không gian sáng tạo và một môi trường đủ tốt để thực sự làm công việc quan trọng nhất: khơi dậy năng lực của người học.
Cùng với đó, cách thi và đánh giá phải thay đổi. Nếu cách đánh giá vẫn chủ yếu khuyến khích ghi nhớ và tái hiện kiến thức, thì rất khó đòi hỏi giáo viên phải dạy sáng tạo và học sinh phải tư duy độc lập. Đổi mới giáo dục vì vậy phải là một chỉnh thể, trong đó chương trình, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và quản trị nhà trường tác động qua lại với nhau.
Đặc biệt, giáo dục phải đi trước một bước trước những biến đổi của nền kinh tế và công nghệ. Việc tăng tỷ lệ sinh viên STEM, phát triển nhân lực công nghệ chiến lược, gắn giáo dục đại học với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp là hướng đi cần thiết. Nhưng một nền giáo dục tiên tiến không thể chỉ đào tạo những người giỏi công nghệ. Nó phải đồng thời tạo ra những con người có trách nhiệm, có khả năng hợp tác, có tư duy độc lập, biết phân biệt đúng - sai và có năng lực thích ứng trước những biến động chưa từng có.
Trong quá trình đó, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo cần được nhìn nhận như công cụ hỗ trợ chứ không phải sự thay thế bản chất của giáo dục. Công nghệ có thể giúp cá nhân hóa việc học, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và nâng cao hiệu quả quản trị. Nhưng không một thuật toán nào có thể thay thế hoàn toàn vai trò của người thầy trong việc truyền cảm hứng, hình thành nhân cách và giúp một đứa trẻ hiểu giá trị của tri thức.
Năm học 2026-2027 vì thế có thể được xem như một dấu mốc đặc biệt. Điều quan trọng không phải là khai giảng thêm một năm học mới, mà là khởi động một trạng thái mới của giáo dục: từ tạo nền tảng sang tạo kết quả, từ nói về đổi mới sang thực hiện đổi mới, từ kỳ vọng vào giáo dục sang đo đếm những thay đổi thực chất mà giáo dục tạo ra.
Đột phá giáo dục, xét đến cùng, không phải là tạo ra một vài “đỉnh cao” tách rời khỏi mặt bằng chung. Đó phải là đồng thời nâng mặt bằng kỹ năng của lực lượng lao động và hình thành những trung tâm, những con người tinh hoa có khả năng dẫn dắt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Một nền giáo dục có tầm nhìn văn hóa phải làm được cả hai việc ấy: Không để một đứa trẻ bị bỏ lại phía sau, đồng thời không để một tài năng bị bỏ lỡ.
Đó cũng chính là thước đo sâu xa nhất của một cuộc đột phá: Không chỉ có thêm trường, thêm lớp, thêm thiết bị hay thêm bằng cấp, mà tạo ra một thế hệ người Việt Nam có tri thức, nhân cách, năng lực sáng tạo và khát vọng đóng góp cho đất nước. Khi ấy, Nghị quyết không chỉ đi vào cuộc sống bằng những con số, mà thực sự đi vào từng con người – và từ những con người ấy, tạo nên sức mạnh văn hóa, trí tuệ và phát triển của quốc gia.
V.X.B
Vũ Xuân Bân
1 giờ trước
15 giờ trước
19 giờ trước
21 giờ trước
23 giờ trước
41 phút trước
Vừa xong
12 phút trước
23 phút trước
24 phút trước
34 phút trước
57 phút trước