🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Gỡ 'nút thắt' để bảo hiểm nông nghiệp lan tỏa mạnh mẽ hơn

8 giờ trước
Việt Nam có đến hơn 60% người dân làm nông nghiệp nhưng số hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) chỉ chiếm một con số rất nhỏ, trong khi người dân được hỗ trợ chi phí tham gia loại hình bảo hiểm này. Làm cách nào để người dân mặn mà hơn với BHNN?

Doanh thu giai đoạn 2019 - 2022 chưa đến 7 tỷ đồng

Tiến sĩ Tô Thị Hồng - giảng viên Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, trên thế giới, các loại hình BHNN đã được triển khai từ rất lâu. Ở Việt Nam, BHNN cũng đã được triển khai trong vài năm “nhưng kết quả đạt được thì tương đối hạn chế. Theo báo cáo số liệu tạm thời, giai đoạn 2019 - 2021, có 16.731 hộ tham gia với tổng giá trị được bảo hiểm là 146 tỉ đồng; tổng phí mua bảo hiểm gần 7 tỉ đồng. Đây là một con số rất nhỏ và số lượng người dân tham gia BHNN đang có xu hướng giảm dần từ năm 2022” - TS Hồng nói.

Trong khi đó, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người nông dân tham gia BHNN khá tốt. Ví dụ, đối tượng là hộ nghèo, hộ cận nghèo có thể được hỗ trợ mức đóng BHNN lên tới 90%, các đối tượng khác thì tối đa được hỗ trợ 20%.

Luật sư (LS) Nguyễn Văn Hà (Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội) cho biết, hiện có rất nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau để người dân lựa chọn, tức là người dân có thể căn cứ vào rất nhiều yếu tố để lựa chọn loại hình bảo hiểm cho phù hợp như dựa vào ngành hàng, vào sản phẩm hoặc có thể căn cứ vào thời vụ, thời tiết, các yếu tố có thể chi phối liên quan đến sản phẩm đó…

Cụ thể, trong Nghị định 58/2018/NĐ-CP của Chính phủ về BHNN (Nghị định 58), đã quy định rất rõ có 6 hình thức BHNN khác nhau để cho người dân được quyền lựa chọn. Tuy nhiên, thực tế, chưa có một phân tích thật chi tiết, cụ thể, thấu đáo cho người dân ở từng vùng, miền, từng khu vực, từng đối tượng để họ nhận thức được, với 6 hình thức đó thì ở những khu vực đó, họ nên lựa chọn những hình thức bảo hiểm nào cho phù hợp với điều kiện canh tác, điều kiện nuôi trồng, điều kiện địa chất, khí hậu... mà từng người dân tham gia sản xuất nông nghiệp.

Theo LS Hà, đây là một trong những nguyên nhân mà người dân chưa mặn mà trong quá trình tiếp cận về BHNN, ngoài ra còn có thể có nguyên nhân từ hạn chế về hành lang pháp lý, chưa có cơ chế hỗ trợ phù hợp và tâm lý người dân chưa sẵn sàng tham gia khi không xảy ra thiên tai.

Do đó, theo các chuyên gia, cần có hành lang pháp lý rõ ràng, bảo đảm thật tốt quyền lợi cho người dân thì người dân mới có thể tham gia được. Đặc biệt, các phương thức thực hiện mua bán, chi trả quyền lợi bảo hiểm phải thuận tiện, gọn nhẹ, an toàn, tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm hoặc gian lận bảo hiểm để người dân có thể sẵn sàng tham gia. “Đây là một trong những chìa khóa rất lớn để phát triển mạnh mẽ hơn loại hình BHNN trong tình hình biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt hiện nay” - LS Hà nói.

Đề xuất nâng cao mức hỗ trợ cho người tham gia BHNN

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 58 với nhiều thay đổi quan trọng. Đây được xem là nỗ lực nhằm tháo gỡ các “nút thắt” trong triển khai BHNN, giúp người sản xuất chủ động ứng phó trước những rủi ro thiên tai, dịch bệnh ngày càng khắc nghiệt.

Đại diện Bộ Tài chính cho biết, trong những năm qua, dù đã có những kết quả nhất định sau giai đoạn thí điểm, BHNN tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Về phía người dân, nhận thức về loại hình bảo hiểm này còn hạn chế, trong khi khả năng tài chính để tham gia chưa cao. Về phía doanh nghiệp, đây là nghiệp vụ phức tạp với rủi ro cao do biến động bất thường của thời tiết, đòi hỏi năng lực tài chính lớn và mạng lưới phân phối rộng khắp.

Thực tế cho thấy, đối tượng tham gia chủ yếu vẫn là hộ nghèo và cận nghèo, trong khi các cá nhân và tổ chức sản xuất nông nghiệp khác tham gia còn rất ít. Để thúc đẩy thị trường này, việc tạo ra một hành lang pháp lý minh bạch và nâng cao mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là yêu cầu cấp thiết.

Đáng chú ý, trong dự thảo sửa đổi Nghị định 58, Bộ Tài chính đã đề xuất điều chỉnh mức hỗ trợ phí bảo hiểm theo hướng mở rộng và tăng cao nhằm mục đích an sinh xã hội. Cụ thể, hộ nghèo được đề xuất nâng mức hỗ trợ tối đa lên đến 95% phí bảo hiểm; Hộ cận nghèo và các cá nhân khác được hỗ trợ đề xuất là 50% phí bảo hiểm; Các tổ chức sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ 30% phí bảo hiểm. Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân, dự thảo còn quy định các tổ chức tín dụng có thể cung cấp khoản vay để nông dân đóng phần phí bảo hiểm còn lại. Đặc biệt, hợp đồng bảo hiểm này có thể được xem là một loại tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó.

Nhằm bảo đảm chính sách sát với thực tế từng địa phương, dự thảo đề xuất giao quyền chủ động cho UBND cấp tỉnh trong việc lựa chọn địa bàn, đối tượng bảo hiểm và loại rủi ro được hỗ trợ. Điều này giúp các tỉnh, thành phố linh hoạt hơn trong việc triển khai dựa trên đặc thù sản xuất của vùng miền.

Ngoài ra, dự thảo cũng bổ sung các quy định về bảo hiểm theo chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám. Theo đó, việc bồi thường sẽ căn cứ vào sự biến động của các chỉ số khách quan (như lượng mưa, tốc độ gió, dữ liệu vệ tinh...) thay vì chỉ phụ thuộc vào việc giám định tổn thất thực tế. Thay đổi này sẽ giúp rút ngắn thời gian giải quyết quyền lợi cho người dân khi có thiên tai xảy ra.

Theo tính toán sơ bộ của Bộ Tài chính, kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho chính sách này dự kiến vào khoảng 151,8 tỷ đồng/năm. Nguồn nhân lực triển khai tại các địa phương sẽ được bố trí theo hình thức kiêm nhiệm để bảo đảm tính gọn nhẹ của bộ máy nhưng vẫn hiệu quả.

Đại diện Bộ Tài chính khẳng định, việc sửa đổi Nghị định không chỉ nhằm mục đích kinh tế mà còn góp phần thực hiện các chủ trương lớn của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030.

Hoàng Tú

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ