🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Giá nông sản hôm nay (21/8): Giá cà phê lao dốc, thịt lợn hơi tiếp tục xu hướng phục hồi

8 giờ trước
Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 21/8, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO BIẾN ĐỘNG NHẸ

Giá lúa tươi hôm nay (21/8) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long biến động trái chiều. Cụ thể, giá lúa tươi IR 50404 tăng 200 đồng/kg, trong khi, lúa OM 34 và OM 5451 giảm 100 đồng/kg. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá.

Giá lúa gạo hôm nay tại Đồng bằng sông Cửu Long có sự biến động nhẹ

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay tăng 200 đồng/kg dao động ở mức 6.400 - 6.500 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động mốc 6.600 - 6.700 đồng/kg; tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.900 - 7.000 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.800 - 7.000 đồng/kg.

Tại các địa phương hôm nay, nhu cầu giao dịch mua bán lúa mới chậm, giá lúa thơm biến động nhẹ. Tại Đồng Tháp, giao dịch lúa mới chậm, nhiều thương lái ngưng mua, giá lúa có xu hướng giảm. Tại An Giang, bạn hàng hỏi mua mới ít, giá lúa tươi biến động nhẹ. Tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán yếu, giá lúa tương đối ổn định.

Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay giảm 50 đồng/kg dao động ở mức 9.700 - 9.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 giảm 50 đồng/kg dao động ở mức 9.750 - 9.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.350 - 8.800 đồng/kg. Hiện tấm thơm giảm 50 đồng/kg dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; giá cám giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 7.350 - 7.550 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ giá gạo đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.500 - 17.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 14.500 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg.

Phân khúc nếp ổn định so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 500 - 505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 370 - 374 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 538 - 542 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 450 - 454 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 374 - 378 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 360 - 364 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động 292 - 296 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ GIẢM

Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên quay đầu giảm sau những phiên tăng mạnh trước đó. Mức giảm phổ biến từ 500 - 600 đồng/kg, đưa giá thu mua về khoảng 97.200 - 98.000 đồng/kg.

Cụ thể, tại Đắk Nông cũ (Lâm Đồng), giá cà phê giảm 500 đồng/kg, xuống còn 98.000 đồng/kg. Dù điều chỉnh đi xuống, đây vẫn là mức thu mua cao nhất trong các địa phương được khảo sát.

Giá cà phê đồng loạt lao dốc

Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng giảm 600 đồng/kg so với phiên trước, xuống 97.700 đồng/kg. Lâm Đồng cũng ghi nhận mức giảm 500 đồng/kg, đưa giá cà phê về 97.200 đồng/kg, thấp nhất khu vực.

Như vậy, thị trường nội địa đã chững lại sau hai ngày tăng mạnh. Dù giảm trong phiên sáng nay, mặt bằng giá cà phê Tây Nguyên vẫn duy trì trên ngưỡng 97.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, cả hai sàn cà phê lớn đều chuyển sang sắc đỏ sau nhịp tăng mạnh trước đó. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 9/2026 giảm 0,99%, tương đương 37 USD/tấn, xuống còn 3.718 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm nhẹ 0,29%, tương ứng 11 USD/tấn, xuống 3.728 USD/tấn.

Trên sàn New York, cà phê Arabica kỳ hạn tháng 9/2026 giảm 1,07%, tương đương 3,9 US cent/pound, còn 359,5 US cent/pound. Hợp đồng tháng 12/2026 mất 1,28%, tương ứng 4,25 US cent/pound, xuống 328,2 US cent/pound.

GIÁ TIÊU ỔN ĐỊNH

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục duy trì trạng thái ổn định, chưa ghi nhận điều chỉnh mới. Mặt bằng giá thu mua hiện dao động trong khoảng 136.000 - 139.000 đồng/kg.

Trong đó, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là khu vực có mức giá cao nhất, đạt 139.000 đồng/kg. Đứng kế tiếp là Đắk Lắk với giá thu mua 138.000 đồng/kg.

Tại Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), hồ tiêu được giao dịch phổ biến ở mức 136.000 đồng/kg.

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục duy trì trạng thái ổn định

Như vậy, sau nhiều phiên liên tiếp không có biến động đáng kể, thị trường hồ tiêu trong nước vẫn duy trì mặt bằng tương đối cao, với khoảng cách giữa mức thấp nhất và cao nhất khoảng 3.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tại các nguồn cung lớn cũng không thay đổi so với phiên trước. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia hiện được giao dịch ở mức 6.851 USD/tấn, trong khi tiêu đen Brazil ASTA 570 đứng ở 5.900 USD/tấn và tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục được chào bán trong khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ở 9.380 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam đạt 8.400 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục ghi nhận mức cao hơn đáng kể, ở 12.200 USD/tấn.

GIÁ CAO SU

Trong nước, giá thu mua mủ cao su tại nhiều doanh nghiệp tiếp tục giữ nguyên. Cụ thể, tại Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg; thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) 18.000 đồng/kg.

Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản hợp đồng giao tháng 8 ở mức 478,90 Yên/kg, tăng 0,81%. Hợp đồng giao tháng 9 ở mức 451,30 Yên/kg, tăng 0,40%.

Tại Thái Lan, giá cao su nội địa (RSS3) tạm đi ngang so với phiên trước, duy trì ở mức 87,30 Baht/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 8 ở mức 17.310 Nhân dân tệ/tấn, tăng 0,67%. Hợp đồng giao tháng 9 ở mức 17.350 Nhân dân tệ/tấn, tăng 0,79%.

Hợp đồng cao su butadien giao tháng 10 có khối lượng giao dịch lớn nhất trên SHFE tăng 350 Nhân dân tệ, tương đương 2,44%, lên 14.680 Nhân dân tệ/tấn, nối dài chuỗi tăng lên phiên thứ 7 liên tiếp.

Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 9 ở mức 229 Cent/kg, tăng 1,87%. Hợp đồng kỳ hạn tháng 10 ở mức 227,50 Cent/kg, tăng 2,06%.

Nhìn chung, thị trường cao su quốc tế đang nhận được hỗ trợ từ ba yếu tố chính gồm đà tăng của cao su butadien, giá dầu đi lên và thời tiết bất lợi tại Thái Lan. Việc cả ba sàn cùng đi lên là tín hiệu đáng chú ý sau giai đoạn thị trường có những phiên biến động đan xen, đồng thời phản ánh kỳ vọng tích cực hơn đối với nhu cầu tiêu thụ cao su trong thời gian tới.

GIÁ THỊT LỢN TIẾP TỤC HỒI PHỤC

Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi. Nhiều tỉnh, thành đồng loạt tăng thêm 1.000 đồng/kg, đưa giá thu mua trong khu vực lên hai mức 57.000 đồng/kg và 58.000 đồng/kg.

Cụ thể, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Phú Thọ và Sơn La cùng ghi nhận mức tăng 1.000 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nội, Phú Thọ và Hưng Yên cùng đạt 58.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.

Trong khi đó, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La cùng được thương lái thu mua ở mức 57.000 đồng/kg.

Như vậy, sau hai phiên phục hồi liên tiếp, miền Bắc hiện không còn địa phương nào giao dịch dưới 57.000 đồng/kg. So với giai đoạn giảm mạnh trước đó, mặt bằng giá tại khu vực đã có sự cải thiện rõ rệt.

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay cùng nối dài đà tăng, xu hướng đi lên tiếp tục xuất hiện tại Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Huế. Sau điều chỉnh, giá lợn hơi trong khu vực dao động từ 56.000 - 58.000 đồng/kg.

Trong đó, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị cùng tăng lên 58.000 đồng/kg, trở thành nhóm địa phương có giá cao nhất khu vực.

Huế sau điều chỉnh đạt 57.000 đồng/kg, ngang với Gia Lai và Lâm Đồng. Ở chiều ngược lại, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Khánh Hòa tiếp tục giữ mức 56.000 đồng/kg, thấp nhất miền Trung - Tây Nguyên.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay ở Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp và TP. Hồ Chí Minh cùng tăng thêm 1.000 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, giá lợn hơi tại miền Nam phổ biến trong khoảng 56.000 - 58.000 đồng/kg. Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh cùng lên 58.000 đồng/kg, ngang mức đang được ghi nhận tại Vĩnh Long.

Tây Ninh sau khi tăng giá đạt 57.000 đồng/kg. Đồng Tháp cũng tăng lên 56.000 đồng/kg, trong khi An Giang, Cà Mau và Cần Thơ cùng giao dịch quanh mức này.

Diễn biến hai phiên tăng liên tiếp cho thấy thị trường đang có dấu hiệu hồi phục sau giai đoạn giảm kéo dài. Việc giá thấp nhất được nâng thêm một bước và nhóm 58.000 đồng/kg mở rộng là tín hiệu tích cực đối với người chăn nuôi.

Tuy nhiên, nhịp tăng hiện mới chủ yếu ở mức 1.000 đồng/kg và chưa đủ để khẳng định một chu kỳ tăng mạnh đã hình thành. Diễn biến tiếp theo vẫn phụ thuộc vào nguồn cung lợn xuất chuồng, sức mua trên thị trường thực phẩm, hoạt động thu mua của thương lái và tình hình dịch bệnh.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Minh Hoàng

TIN LIÊN QUAN




























































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ