🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Đưa Kết luận số 75-KL/TW vào cuộc sống Quản trị môi trường phải dựa trên dữ liệu và rủi ro

1 giờ trước
Nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường HOÀNG DƯƠNG TÙNG cho rằng, muốn chuyển từ tư duy "đối phó thụ động" sang tư duy "ứng phó chủ động" trong bảo vệ môi trường theo định hướng Kết luận số 75-KL/TW, cần quản trị môi trường dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro. Đây là nền tảng để xác định đúng nguồn ô nhiễm, phân bổ nguồn lực hiệu quả, cảnh báo sớm và quy rõ trách nhiệm.

Sớm xây dựng hạ tầng dữ liệu và nền tảng số dùng chung

- Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV yêu cầu đặt bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển; chuyển từ xử lý bị động sang chủ động phòng ngừa, kiểm soát và cảnh báo sớm. Từ thực tiễn quản lý, theo ông, Việt Nam cần thay đổi những gì để thực hiện hiệu quả sự chuyển đổi này?

- Tôi cho rằng Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới đã xác định rất đúng và trúng những vấn đề cốt lõi, với tầm nhìn tổng thể và dài hạn.

Ảnh: Thanh Trang

Quan trọng nhất là phải đặt bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vào trung tâm của các quyết định phát triển, thay vì coi đây là vấn đề tách rời. Cùng với đó, phải chuyển từ bị động xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa và kiểm soát rủi ro. Không thể tiếp tục “chạy theo” ô nhiễm và sự cố khi chúng đã xảy ra, bởi chi phí khắc phục rất lớn và nhiều tổn hại môi trường khó có thể phục hồi. Muốn phòng ngừa thực chất, phải chuyển sang quản trị theo rủi ro dựa trên dữ liệu, để nhận diện sớm, cảnh báo sớm và can thiệp kịp thời.

Ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước đều mang tính liên vùng, liên ngành. Không có dữ liệu thì không thể xác định nguyên nhân, càng không thể dự báo. Quản trị hiện đại phải bắt đầu từ việc nắm chắc các nguồn thải và số hóa thành hồ sơ điện tử. Kết hợp với dữ liệu quan trắc, giao thông, xây dựng, khí tượng, thủy văn, chúng ta mới có được bức tranh toàn cảnh để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) phân tích, dự báo và cảnh báo sớm.

Khi đó, giải pháp quản lý sẽ không còn chung chung mà có thể xác định rõ vấn đề gì, ở đâu, nguồn nào gây ra và trách nhiệm thuộc về ai; đồng thời tạo điều kiện để các nhà khoa học, cộng đồng tham gia giám sát.

Thời gian đến năm 2030 không còn nhiều, trong khi dữ liệu môi trường vẫn còn manh mún, cục bộ. Vì vậy, cần đẩy nhanh xây dựng hạ tầng dữ liệu và nền tảng số môi trường dùng chung, vừa làm vừa chuẩn hóa và hoàn thiện. Mục tiêu không phải chỉ để có một cơ sở dữ liệu, mà là biến dữ liệu thành công cụ quản trị: phục vụ giám sát, tự động phân tích, cảnh báo sớm, quản lý theo rủi ro và hỗ trợ các cấp ra quyết định nhanh, chính xác hơn.

Luật hóa mức chi cho bảo vệ môi trường

- Kết luận số 75-KL/TW yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. Cần phân bổ, sử dụng như thế nào để nguồn lực thực sự chuyển hóa thành kết quả môi trường, thưa ông?

- Trước hết, mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường cần được thể chế hóa trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện ổn định, lâu dài. Quan trọng hơn, Luật cần quy định rõ cơ chế phân bổ, sử dụng và giám sát nguồn kinh phí này, bảo đảm được bố trí đúng, đủ và sử dụng đúng mục đích, thực sự tạo ra kết quả về môi trường.

Nguồn lực này cần được phân bổ có trọng tâm, dựa trên dữ liệu và mức độ cấp bách của từng vấn đề môi trường. Đồng thời, cần trao quyền chủ động hơn cho chính quyền địa phương trong quyết định các khoản chi, đi cùng trách nhiệm giải trình, bởi mỗi địa phương có những vấn đề và mức độ ô nhiễm khác nhau.

Trong điều kiện ngân sách còn hạn chế, cũng cần thực hiện đầy đủ nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, không để chi phí xử lý ô nhiễm trở thành gánh nặng của Nhà nước và xã hội. Dù đã được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 2020, nguyên tắc này chưa được thực thi đầy đủ. Vì vậy, cần từng bước giảm bao cấp đối với xử lý chất thải, hoàn thiện các công cụ kinh tế và cơ chế thu phí gắn với mức độ gây ô nhiễm, chi phí xử lý và khắc phục môi trường. Với những chính sách tác động trực tiếp đến người dân, cần có lộ trình phù hợp để bảo đảm tính khả thi và sự đồng thuận.

- Kết luận số 75-KL/TW đặt các mục tiêu cụ thể đến năm 2030, như 80% số ngày trong năm tại các đô thị đặc biệt có chất lượng không khí tốt và trung bình, hay 100% cụm công nghiệp xử lý nước thải đạt chuẩn… Theo ông, cần tập trung vào những giải pháp nào để đạt được?

- Đây là những mục tiêu rất thách thức và đòi hỏi quyết tâm chính trị rất lớn. Mục tiêu chung ấy phải được cụ thể hóa thành bài toán riêng của từng địa phương, gắn với trách nhiệm và nguồn lực thực hiện.

Để đạt được mục tiêu, chúng ta không thể áp dụng một công thức cho mọi nơi. Hà Nội khác TP. Hồ Chí Minh, và ngay trong một đô thị, khu vực lõi cũng khác vùng ven. Vì vậy, phải “điểm mặt, chỉ tên” chính xác nguyên nhân tại từng địa bàn để thiết kế giải pháp đúng và trúng. Muốn vậy vẫn phải có dữ liệu đầy đủ, chính xác, được số hóa, cập nhật và liên thông.

Bên cạnh dữ liệu, cần có các công cụ chính sách đủ mạnh để thúc đẩy chuyển đổi. Chẳng hạn, để giảm ô nhiễm không khí đô thị, phát triển giao thông xanh và triển khai vùng phát thải thấp cần kết hợp các công cụ kinh tế, hỗ trợ tài chính và cơ chế khuyến khích phù hợp để thúc đẩy phương tiện sạch. Đối với nước thải tại cụm công nghiệp, làng nghề, cần kết hợp chế tài đủ sức răn đe với các cơ chế hỗ trợ về tài chính, công nghệ và kỹ thuật.

Chính sách đãi ngộ cần, nhưng chưa đủ

- Các định hướng của Kết luận số 75-KL/TW sẽ khó thành công nếu đội ngũ thực thi thiếu năng lực. Theo ông, cần chính sách gì để vừa nâng cao năng lực cán bộ cơ sở, vừa thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao trong ngành môi trường?

- Suy cho cùng, dù chính sách hay công cụ hiện đại đến đâu, yếu tố quyết định vẫn là con người. Đội ngũ cán bộ môi trường ở cơ sở hiện còn mỏng. Nay thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, áp lực càng lớn. Không chỉ thiếu về số lượng, năng lực cán bộ cũng là vấn đề đáng quan tâm.

Để giải quyết bài toán này, trước hết, cần trang bị bộ công cụ làm việc chuẩn hóa, dễ áp dụng, sớm xây dựng cẩm nang, sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ để cán bộ cấp xã biết rõ quy trình và cách xử lý từng tình huống.

Bên cạnh đó, cần kết nối, chia sẻ dữ liệu và xây dựng nền tảng dùng chung để cán bộ thuận tiện tra cứu, học hỏi kinh nghiệm. Đồng thời, phải coi đào tạo, cập nhật kiến thức và nâng cao năng lực cán bộ là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục.

Chính sách đãi ngộ rất quan trọng để thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao trong công tác bảo vệ môi trường, nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần. Cần đồng thời bảo đảm cán bộ có công cụ, dữ liệu để làm việc và có cơ chế mở để huy động sự đồng hành, hỗ trợ kỹ thuật của các nhà khoa học, viện nghiên cứu và của toàn xã hội.

- Xin cảm ơn ông!

Đan Thanh thực hiện

TIN LIÊN QUAN










































Home Icon VỀ TRANG CHỦ