🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Doanh nghiệp Việt tận dụng bản sắc văn hóa vươn ra thị trường quốc tế

1 giờ trước
Thay vì lựa chọn 'địa phương hóa' sản phẩm, nhiều doanh nghiệp Việt đang nỗ lực dùng tính nội địa, bản sắc văn hóa để thâm nhập sâu vào một ngách của thị trường quốc tế.

Khi “địa phương hóa” sản phẩm đang là chiến lược khá hoàn hảo được nhiều tập đoàn đa quốc gia áp dụng để mở rộng quy mô và sự hiện diện của mình, thì một thế hệ doanh nghiệp mới tại Việt Nam lại đang nỗ lực chứng minh điều ngược lại: dùng tính nội địa, bản sắc văn hóa để thâm nhập sâu vào một ngách của thị trường quốc tế.

Tìm thị trường quốc tế từ tính bản địa

Từ một thương hiệu mỹ phẩm thuần Việt non trẻ, Cocoon đã chứng minh nỗ lực vươn mình ra thế giới bằng chiến lược thâm nhập sâu vào thị trường nội địa trước khi xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

Theo đó, hãng mỹ phẩm này đã thổi làn gió mới vào thị trường mỹ phẩm nội địa bằng việc khai thác những nông sản đặc hữu, giàu dưỡng chất của đất Việt từ cà phê, sen, bí đao cho tới nghệ, bưởi... để đưa vào sản phẩm. Và cũng nhờ tính "xanh hóa", thiên nhiên này, hãng mỹ phẩm đã chinh phục hơn 4.000 điểm bán nội địa cùng 15 thị trường trên thế giới.

Ông Phạm Minh Dũng, Giám đốc Kinh doanh và Tiếp thị của Cocoon nói rằng chúng ta đã chứng kiến nhiều thương hiệu ngoại thành công ở Việt Nam, nhưng sẽ thật thiếu sót nếu mỹ phẩm Việt chấp nhận thua ngay trên chính sân nhà.

Chính vì thế, doanh nghiệp này đã xây dựng Cocoon với tâm thế mỹ phẩm Việt, từ đất Việt, do người Việt, cho người Việt. Ông Dũng cho rằng sự tin tưởng và đón nhận của khách hàng trong nước chính là chìa khóa mở ra cánh cửa tiến vào những thị trường mới, đưa mỹ phẩm Việt đến gần hơn với thế giới.

Đây cũng là cách thức được ông Phạm Chí Nhu, nhà đồng sáng lập kiêm giám đốc điều hành hãng thời trang Coolmate lựa chọn để thực hiện chiến lược "go global" của hãng.

Ông Nhu cho biết, kể từ khi thành lập, Coolmate đã chọn chiến lược nội địa hóa toàn diện với 100% sản phẩm "Made in Vietnam" và 80% nguyên liệu nội địa, giúp doanh nghiệp chủ động nguồn cung ứng. Cạnh đó, tính bản địa, đặc trưng đã giúp doanh nghiệp thu về 1 triệu USD chỉ trong 6 tháng đầu tiên xuất khẩu qua Mỹ, thông qua nền tảng Amazon.

Ông Nhu cũng cho rằng một trong những lợi thế cạnh tranh của ngành may mặc nước ta chính là trình độ tay nghề của công nhân Việt Nam, khi chúng ta có khả năng xử lý các mặt hàng kỹ thuật khó mà ngay cả các ông lớn như Nike hay Lululemon cũng tin dùng. Điều này giúp cho hàng Việt được lòng người dùng quốc tế, tạo ra dấu ấn thương hiệu cho doanh nghiệp nói riêng và quốc gia nói chung.

Trình độ tay nghề của công nhân Việt Nam có khả năng xử lý các mặt hàng kỹ thuật khó mà ngay cả các ông lớn cũng tin dùng. Ảnh minh họa: HẠ QUYÊN

Với góc nhìn điều hành, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) nhìn nhận chỉ tính riêng với ngành may mặc Việt Nam, sự hiện diện ở 138 thị trường quốc tế không chỉ đơn thuần là bài toán kinh tế, mà còn thể hiện sự thích nghi và định vị thương hiệu.

Thế giới đang cần nhiều thứ hơn ở một sản phẩm. Xu hướng cá nhân hóa và thiết kế riêng đang trở nên phổ biến trên toàn thế giới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cường chất xám vào các sản phẩm.

Dẫn một ví dụ về một doanh nghiệp may mặc ở phía Bắc, ông Giang cho biết nhờ cá nhân hóa, trong năm 2025 đơn vị này đã bán ra 6,8 triệu áo sơ mi đơn chiếc cho thị trường toàn cầu.

Tương tự, Công ty May 10, chuyên sản xuất đồ vest cho thị trường Nhật Bản và Mỹ đã duy trì đơn hàng xuất khẩu theo hình thức may đo từng bộ cho khách hàng, thay vì sản xuất ồ ạt, với tỉ lệ may thủ công lên tới 60%, còn lại 40% do máy móc đảm nhiệm.

Ông Thân Việt Đức, Tổng giám đốc Công ty May 10 cho biết, kết thúc năm 2025, doanh thu của công ty đạt 5.136 tỉ đồng với lợi nhuận 212 tỉ đồng, vượt mục tiêu đặt ra. Điều đó cho thấy hình thức cá nhân hóa, thiết kế riêng đang tạo nên giá trị khác biệt của sản phẩm may mặc của Việt Nam.

Tương tự, trong ngành gỗ, ông Trần Lam Sơn, Phó Tổng giám đốc Công ty Thiên Minh Furniture cũng lựa chọn tính bản địa để làm nổi bật sản phẩm với khách quốc tế thông qua việc lựa chọn nguyên liệu nội địa là gỗ keo (Acacia) và cỏ năng tượng - một loại cỏ đặc trưng có ở miền Tây của Việt Nam.

Tính thủ công và sản phẩm thân thiện môi trường đã giúp doanh nghiệp Việt có nhiều lợi thế ở thị trường quốc tế. Ảnh: HẠ QUYÊN

Ông Sơn tính toán, so với gỗ Teak (thường được các quốc gia sử dụng), gỗ keo Việt Nam có giá thành rẻ hơn, khoảng 100 USD/khối, rẻ hơn 10 lần so với gỗ Teak (1.000 USD/khối) nhưng tính chất lý - hóa tương đương. Tương tự, với cỏ năng tượng, giá thu mua chỉ từ 6.000 - 12.000 đồng/kg, thấp hơn một nửa so với lục bình (26.000 đồng/kg), nhưng mang về tiềm năng kinh tế có thể đạt tới 9 tỉ USD, lại đáp ứng tính thân thiện môi trường, đặc trưng, độc lạ và phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu quốc tế.

Khơi thông nguồn lực nội sinh từ xây dựng thương hiệu

Ông Vũ Đức Giang cho rằng, ở góc nhìn vĩ mô, việc xây dựng thương hiệu giờ đây không còn là nhãn mác vô hồn, mà là sự tổng hòa của chất lượng, thiết kế và lòng tự tôn dân tộc và trách nhiệm xã hội. Một sản phẩm có thể cạnh tranh về giá trong ngắn hạn nhưng chỉ câu chuyện và bản sắc mới giúp tồn tại lâu dài trong tâm trí khách hàng.

ThS Trần Minh Trí, Giảng viên khoa Kinh tế, Đại học Nông Lâm TP.HCM cũng nhìn nhận việc khơi thông nguồn lực nội sinh, tính đặc trưng là một trong những yếu tố bền vững giúp doanh nghiệp Việt không bị hòa tan khi ra biển lớn.

Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng khẳng định một cách nhất quán văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.

ThS Trần Minh Trí cũng nhìn nhận: "Hiện nay nhà nước đang đẩy mạnh các chính sách cho sản phẩm OCOP, khi OCOP đủ mạnh, chúng ta hoàn toàn có thể vươn ra thế giới, cũng nhờ tính riêng biệt của thương hiệu và chất lượng.

Nhìn vào bài toán kinh tế, các sản phẩm OCOP không đơn thuần là bán hàng hóa mà là lan tỏa giá trị văn hóa, tri thức bản địa và câu chuyện phát triển nông thôn. Khi được định vị đúng, kể đúng câu chuyện và có sự đồng hành từ chính sách đến doanh nghiệp, mỗi sản phẩm OCOP hoàn toàn có thể trở thành một “đại sứ văn hóa” của Việt Nam trên thị trường toàn cầu".

Dù vậy, theo ThS Trần Minh Trí, để thực hiện chiến lược phát triển lâu dài tại thị trường quốc tế, doanh nghiệp không thể chỉ khoe rằng "chúng tôi có tính đặc sản, đặc trưng". Thay vào đó, doanh nghiệp phải xây dựng chuỗi cung ứng vững chắc từ đầu vào cho tới đầu ra một cách bền vững. Cùng với chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao bì thì việc xây dựng lộ trình thương hiệu sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều thứ hơn là giá trị kinh tế.

Thương hiệu sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều thứ hơn là giá trị kinh tế. Ảnh: THU HÀ

Theo ông Trí, điểm hạn chế phổ biến mà các doanh nghiệp đang gặp phải là chưa khai thác hết tiềm lực sang năng lực, thiếu chiến lược dài hạn cho phát triển thương hiệu. Một thương hiệu không thể hình thành từ chiến dịch ngắn hạn mà phải dựa trên nội lực bền vững.

Do đó, để tham gia thị trường toàn cầu, doanh nghiệp cần hội tụ quy mô, tài chính, vốn, nhân sự, năng lực thực thi và hệ thống quản trị thương hiệu bài bản.

Ông Hoàng Minh Chiến, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương cũng từng chỉ ra rằng thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở việc đưa hàng hóa ra thị trường mà ở việc xác lập vai trò của doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị. Do đó, doanh nghiệp không thể chỉ tham gia mà phải từng bước định vị được vị trí của mình, chuyển từ gia công sang thiết kế, tiến tới xây dựng thương hiệu riêng.

Giai đoạn 2020-2025 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ của Thương hiệu quốc gia Việt Nam với tổng giá trị năm 2025 đạt gần 520 tỷ USD, xếp thứ 32/193 quốc gia; tốc độ tăng trưởng đạt 63%.

HẠ QUYÊN

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ