🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Đặt Việt Nam trước chuẩn phát triển cao hơn

14 giờ trước
Hôm nay 29-7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Việc Bộ Chính trị tổ chức hội nghị ngay sau Hội nghị Trung ương lần thứ 3 cho thấy yêu cầu xuyên suốt là rút ngắn khoảng cách từ nghị quyết đến thực tiễn, tốc độ đưa nghị quyết vào cuộc sống sẽ quyết định hiệu quả của các chủ trương.

Tại Hội nghị lần thứ 3 vừa qua, một trong các nội dung quan trọng được Trung ương thảo luận, cho ý kiến, thông qua là Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Đây được xác định là vấn đề rất lớn, rất mới, chưa có tiền lệ, có ý nghĩa định hình con đường phát triển đất nước đến năm 2045 và xa hơn.

Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là câu chuyện tăng trưởng nhanh hơn, mà là nước ta sẽ tạo ra của cải, nâng cao sức cạnh tranh và phát triển bền vững bằng cách nào trong nhiều thập niên tới. Nếu mô hình tăng trưởng chủ yếu trả lời GDP tăng từ đâu, thì mô hình phát triển phải trả lời rộng hơn: tăng trưởng được tạo ra trong cấu trúc thể chế nào, thành quả được phân bổ ra sao, có nâng cao năng lực tự chủ, chất lượng sống và sức chống chịu quốc gia hay không.

Sau 4 thập niên đổi mới, nước ta vừa phải duy trì tốc độ tăng trưởng đủ cao để hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, vừa phải thay đổi chất lượng của chính sự tăng trưởng đó. Hạt nhân kinh tế của mô hình mới là 3 chuyển đổi gắn bó hữu cơ: chuyển đổi động lực, lấy năng suất, tri thức, dữ liệu và đổi mới sáng tạo thay cho sự lệ thuộc quá mức vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ; chuyển đổi vị thế, đưa doanh nghiệp Việt Nam lên những nấc thang có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu; chuyển đổi triết lý phát triển, đặt con người vừa là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất, vừa là mục tiêu cao nhất của phát triển.

Năng suất là kết quả tổng hợp của thể chế, thị trường, doanh nghiệp, công nghệ và kỹ năng lao động. Nhà nước kiến tạo không làm thay thị trường, nhưng phải giữ ổn định vĩ mô, bảo đảm cạnh tranh, cung cấp hạ tầng chiến lược, dữ liệu dùng chung và nguồn nhân lực chất lượng cao. Kinh tế tư nhân chỉ thực sự trở thành động lực khi quyền tài sản được bảo vệ, chi phí tuân thủ giảm, cơ hội tiếp cận nguồn lực công bằng hơn.

Với đầu tư nước ngoài, thước đo mới nên là mức độ chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước và sự trưởng thành của đội ngũ kỹ sư, nhà quản trị, nhà cung ứng bản địa. Hội nhập chỉ thực sự hiệu quả khi ngoại lực làm tăng thêm sức mạnh nội lực. Trong 3 điều kiện quyết định gồm thể chế, nhân lực và năng lực tự chủ công nghệ của doanh nghiệp nội địa, thể chế phải đi trước. Thể chế minh bạch, nhất quán sẽ giải phóng sức sáng tạo và đưa nguồn lực đến nơi sử dụng hiệu quả nhất; ngược lại, pháp luật chồng chéo, thủ tục phức tạp sẽ nuôi dưỡng tâm lý “thà đứng yên còn hơn làm sai”.

Đổi mới mô hình phát triển cũng gắn trực tiếp với tổ chức không gian và quản trị nguồn lực quốc gia. Quản trị thống nhất không có nghĩa tập trung mọi quyết định về Trung ương, mà là thống nhất về chiến lược, tiêu chuẩn và dữ liệu, đồng thời phân quyền mạnh trên cơ sở đủ nguồn lực, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm. Tư duy quản trị thống nhất không gian mở ra khả năng hình thành những cực tăng trưởng và hệ sinh thái có sức lan tỏa.

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã chỉ rõ “điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi”. Một quyết sách dù đúng nhưng không xác định rõ ai làm, bằng nguồn lực nào, hoàn thành khi nào và chịu trách nhiệm về kết quả gì thì vẫn chỉ dừng ở tuyên bố mục tiêu. Vì thế, thiết kế năng lực thực thi ngay trong mỗi quyết sách chính là “đột phá của đột phá”. Mỗi chương trình hành động cần xác định rõ nhiệm vụ ưu tiên, đầu ra, thời hạn, nguồn lực, cơ quan chủ trì, cá nhân chịu trách nhiệm và theo dõi bằng dữ liệu, công khai kết quả.

Cần thí điểm có kiểm soát, đánh giá bằng bằng chứng, kịp thời điều chỉnh và nhân rộng. Kỷ luật phải nghiêm nhưng không tạo tâm lý sợ trách nhiệm, đồng thời bảo vệ người liêm chính, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới. Ý nghĩa lớn nhất của nghị quyết là đặt Việt Nam trước một chuẩn phát triển cao hơn. Nghị quyết sẽ thực sự trở thành dấu mốc khi từng quyết sách tạo ra năng lực mới cho đất nước. Đó cũng là mệnh lệnh của giai đoạn mới: muốn đi nhanh phải khơi thông nguồn lực; muốn đi xa phải nâng cao năng suất; muốn phát triển bền vững phải đặt con người và năng lực quốc gia ở vị trí trung tâm.

GS-TS TRẦN THỌ ĐẠT - Đại học Kinh tế Quốc dân

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ