🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Đại biểu Quốc hội: Những nội dung liên quan đến chủ quyền quốc gia, lịch sử dân tộc, lãnh tụ cần có cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt

3 giờ trước
Ngày 9/8 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng), những nội dung liên quan đến chủ quyền quốc gia, lịch sử dân tộc, lãnh tụ và những vấn đề đặc biệt nhạy cảm thì cần có cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt hơn.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Không nên coi nộp lưu chiểu là một bộ phận cấu thành của quá trình xuất bản

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) cho rằng, cần xác định lại thật chính xác nội hàm khái niệm “xuất bản”, không nên coi nộp lưu chiểu là một bộ phận cấu thành của quá trình xuất bản.

Theo đó, tại khoản 1 Điều 4 của dự thảo sau tiếp thu, “xuất bản” được xác định là quá trình tạo thành bản mẫu để in hoặc tạo lập xuất bản phẩm điện tử “và thực hiện nghĩa vụ nộp lưu chiểu”.  Tuy nhiên, bà Nga đề nghị cần rà soát lại bởi về bản chất, khai thác bản thảo, biên tập, thiết kế, chế bản và quyết định xuất bản là những công đoạn tạo ra xuất bản phẩm. Còn lưu chiểu là nghĩa vụ quản lý phát sinh đối với xuất bản phẩm sau khi đã được hình thành, nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước. Chính Điều 28 của dự thảo cũng đã thiết kế lưu chiểu thành một chế định độc lập và định nghĩa rất rõ việc nộp lưu chiểu là chuyển xuất bản phẩm hoặc tệp điện tử đến cơ quan quản lý nhà nước.

Đưa ra dẫn chứng trong Báo cáo tiếp thu, giải trình, cơ quan soạn thảo cũng đã xác định rằng khái niệm “xuất bản” nên chỉ thể hiện những dấu hiệu bản chất, còn lưu chiểu là quy trình phát sinh sau và cần quy định tại điều khoản riêng. Nhưng dự thảo  hiện vẫn giữ lưu chiểu trong định nghĩa “xuất bản”, theo bà Nga, điều này không chỉ là vấn đề kỹ thuật câu chữ. Nếu coi lưu chiểu là một phần của chính quá trình xuất bản thì sẽ phát sinh câu hỏi: xuất bản phẩm đã được tạo thành và có quyết định xuất bản nhưng chưa nộp lưu chiểu thì về pháp lý đã được “xuất bản” hay chưa? Từ đó có thể ảnh hưởng đến việc xác định thời điểm phát sinh quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý.

Tán thành với việc tăng cường kiểm soát đối với những xuất bản phẩm có nội dung đặc thù, nhưng cơ chế kiểm soát ba lớp cần được luật hóa rõ hơn để vừa chặt chẽ, vừa tránh tạo ra một khoảng thời gian pháp lý không xác định, theo bà Nga, những nội dung liên quan đến chủ quyền quốc gia, lịch sử dân tộc, lãnh tụ và những vấn đề đặc biệt nhạy cảm thì cần có cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Báo cáo tiếp thu cũng giải trình đây là cơ chế ba lớp nhằm bảo đảm an ninh văn hóa, tư tưởng.

Xác định nhóm tiêu chí cơ bản xác định xuất bản phẩm thuộc diện kiểm soát đặc biệt

Cho rằng, dự thảo hiện giao Chính phủ xác định danh mục và thời hạn cho ý kiến, trong khi Luật chưa xác định rõ những tiêu chí cơ bản để một đề tài bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt, cũng chưa quy định hậu quả pháp lý nếu cơ quan có trách nhiệm không có ý kiến đúng thời hạn. Theo bà Nga, đây là vấn đề cần cân nhắc vì một xuất bản phẩm đã hoàn thành đầy đủ quy trình nhưng không được phát hành nếu chưa có ý kiến của cơ quan nhà nước.

“Như vậy, thời hạn và trách nhiệm trả lời không phải đơn thuần là thủ tục hành chính mà ảnh hưởng trực tiếp đến quyền chủ động của nhà xuất bản, quyền của tác giả và các quan hệ hợp đồng liên quan”, bà Nga nói và đề nghị Luật nên quy định nguyên tắc và nhóm tiêu chí cơ bản để xác định xuất bản phẩm thuộc diện kiểm soát đặc biệt; đồng thời quy định thời hạn tối đa để cơ quan quản lý trả lời. Nếu cần kéo dài trong trường hợp đặc biệt thì phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do và chỉ được gia hạn trong giới hạn nhất định. Có như vậy mới vừa bảo đảm kiểm soát chặt chẽ nội dung nhạy cảm, vừa bảo đảm trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước.

 Tại Điều 21 hiện quy định việc xuất bản tác phẩm, tài liệu và tái bản xuất bản phẩm “chỉ được thực hiện sau khi có văn bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả”. Đồng tình với việc không nên sao chép các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ vào Luật Xuất bản. Tuy nhiên, theo bà Nga, không quy định lại khác với việc để một quy định trong Luật Xuất bản có cách diễn đạt mang tính tuyệt đối trong khi trên thực tế pháp luật đã có ngoại lệ. Cụm từ “chỉ được thực hiện sau khi có văn bản chấp thuận” có thể dẫn tới cách hiểu rằng đây là điều kiện bắt buộc trong mọi trường hợp. Điều này không chỉ liên quan đến tính thống nhất của hệ thống pháp luật mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện những cơ chế đặc thù mà pháp luật dành cho người khuyết tật và các trường hợp sử dụng hợp pháp khác.

Vì vậy, cần chỉnh Điều 21 theo hướng: “Việc xuất bản, tái bản phải có sự chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp pháp luật về sở hữu trí tuệ có quy định khác”. Như vậy, không quy định lại Luật Sở hữu trí tuệ, nhưng bảo đảm người đọc Luật Xuất bản có thể nhận biết ngay rằng nguyên tắc xin phép không phải là nguyên tắc tuyệt đối.

Anh Vũ - Việt Thắng - Quang Vinh

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ