Đại biểu Quốc hội mong muốn làm đến nơi, làm ra kết quả cụ thể

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại buổi tiếp xúc cử tri. Ảnh: NVCC
Thưa bà, với sự tín nhiệm của cử tri Lâm Đồng trong nhiệm kỳ thứ hai liên tiếp bà đã trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, tâm thế và ưu tiên lớn nhất của bà trong chương trình hành động lần này có gì khác biệt so với khóa trước?
Nếu ở nhiệm kỳ khóa XV, tôi bước vào Quốc hội với tâm thế của một người học hỏi, lắng nghe và nỗ lực làm tròn trách nhiệm đại diện, thì ở khóa XVI, tâm thế đó đã chuyển sang một trạng thái chủ động hơn, bản lĩnh hơn và cũng nặng trách nhiệm hơn rất nhiều. Sự tín nhiệm của cử tri không chỉ là niềm vinh dự, mà còn là động lực khiến tôi phải làm tốt hơn chính mình, không chỉ dừng ở việc phản ánh ý kiến, mà phải góp phần thúc đẩy, kiến tạo và theo đuổi đến cùng những vấn đề đã đặt ra. Điểm khác biệt lớn nhất trong ưu tiên hành động của tôi ở nhiệm kỳ này là chuyển từ “nói đúng, nói trúng” sang “làm đến nơi, làm ra kết quả cụ thể”. Điều đó thể hiện ở ba hướng rõ nét.
Thứ nhất, tôi sẽ theo đuổi đến cùng việc triển khai hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn, đặc biệt là những nội dung liên quan trực tiếp đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Điều cử tri mong muốn không chỉ là chính sách đúng, mà là chính sách đi được vào cuộc sống, giải quyết được những vấn đề rất cụ thể như sinh kế bền vững, hạ tầng thiết yếu, giáo dục và y tế cơ sở.
Thứ hai, tôi đặt ưu tiên cao hơn cho việc thúc đẩy các mô hình phát triển mới phù hợp với lợi thế của Lâm Đồng, thay vì tiếp cận theo hướng truyền thống. Đó là nông nghiệp công nghệ cao gắn với chế biến sâu và thị trường; du lịch sinh thái, du lịch canh nông, du lịch trải nghiệm, du lịch mạo hiểm và du lịch thiền – dưỡng lão. Những lĩnh vực này không chỉ tạo giá trị kinh tế, mà còn giúp định vị lại hình ảnh địa phương theo hướng xanh, bền vững và có chiều sâu.
Thứ ba, tôi sẽ dành nhiều nỗ lực hơn cho việc giám sát và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, bởi thực tế cho thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay không nằm ở chủ trương, mà nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Tôi muốn cùng với các cơ quan liên quan tháo gỡ những điểm nghẽn cụ thể, từ cơ chế, nguồn lực đến trách nhiệm thực thi, để mỗi chính sách khi ban hành đều có “đường đi” rõ ràng và “điểm đến” cụ thể.
Bà dự định sẽ làm gì để đưa tiếng nói của cử tri vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng đến gần hơn với các quyết sách của Quốc hội?
Tôi cho rằng, để tiếng nói của cử tri vùng sâu, vùng xa thực sự đến được nghị trường và “ở lại” trong các quyết sách, điều quan trọng là người đại biểu không chỉ lắng nghe nhiều hơn, mà là biết cách lắng nghe và cách chuyển tải thông tin và có trách nhiệm đến cùng. Trước hết, tôi sẽ duy trì nhưng đồng thời đổi mới mạnh mẽ hoạt động tiếp xúc cử tri theo hướng đi sâu, đi kỹ và đi cùng.
Không chỉ là những cuộc tiếp xúc định kỳ, tôi muốn tăng cường các hình thức tiếp xúc chuyên đề, tiếp xúc theo nhóm nhỏ, thậm chí là đến tận thôn, buôn, ở lại đủ lâu để hiểu được bối cảnh cụ thể của từng vấn đề. Với đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều khi rào cản không nằm ở nội dung, mà nằm ở cách diễn đạt và niềm tin, nên việc lắng nghe phải đủ kiên nhẫn và đủ gần gũi.
Thứ hai, tôi sẽ chú trọng xây dựng một “kênh dẫn” thông tin hai chiều hiệu quả hơn. Một mặt, tổng hợp, chắt lọc ý kiến cử tri theo từng nhóm vấn đề có tính hệ thống, tránh tình trạng phản ánh rời rạc. Mặt khác, chủ động theo dõi đến cùng quá trình xử lý kiến nghị, phản hồi lại cho cử tri một cách rõ ràng, minh bạch, để họ thấy rằng tiếng nói của mình không bị “mất hút” sau mỗi kỳ tiếp xúc.
Thứ ba, tôi xác định phải nâng cao chất lượng chuyển hóa ý kiến cử tri thành nội dung có giá trị tại nghị trường. Điều này đòi hỏi không chỉ phản ánh, mà phải biết “dịch” những băn khoăn rất cụ thể, rất đời sống của người dân thành những vấn đề chính sách có tính khái quát, có cơ sở thực tiễn và có sức thuyết phục trong thảo luận, chất vấn và xây dựng pháp luật.
Cuối cùng, tôi sẽ dành sự quan tâm đặc biệt cho việc giám sát những chính sách liên quan trực tiếp đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bởi chỉ khi chính sách được thực thi hiệu quả, thì tiếng nói của cử tri mới thực sự được tôn trọng một cách trọn vẹn.
Tôi muốn cử tri không chỉ được “nghe nói” tại nghị trường, mà còn “thấy kết quả” trong đời sống của chính họ. Với tôi, khoảng cách giữa vùng sâu, vùng xa với nghị trường không chỉ là địa lý, mà là khoảng cách về cơ hội được lắng nghe và được thụ hưởng chính sách. Trách nhiệm của người đại biểu là phải kiên trì thu hẹp khoảng cách đó bằng hành động cụ thể, chứ không chỉ bằng thiện chí.

Các ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XVI thuộc đơn vị bầu cử số 3 tiếp xúc cử tri tại phường 1 Bảo Lộc, Lâm Đồng. Ảnh: LĐ
Bà nhìn nhận như thế nào về vai trò của đổi mới sáng tạo trong việc thúc đẩy kinh tế xanh tại các địa phương có đặc thù như Lâm Đồng?
Tôi cho rằng, với một địa phương có điều kiện tự nhiên đặc thù và lợi thế rõ rệt như Lâm Đồng, đổi mới sáng tạo không chỉ là một “công cụ hỗ trợ”, mà phải được nhìn nhận như một “đòn bẩy cốt lõi” để chuyển dịch sang mô hình kinh tế xanh một cách thực chất và bền vững. Nếu chỉ dựa vào tài nguyên sẵn có theo cách khai thác truyền thống, sớm muộn cũng sẽ chạm đến giới hạn; còn nếu biết ứng dụng đổi mới sáng tạo, chúng ta có thể vừa gia tăng giá trị, vừa giảm áp lực lên môi trường.
Trước hết, trong lĩnh vực nông nghiệp – vốn là trụ cột của Lâm Đồng, đổi mới sáng tạo cho phép tái định nghĩa khái niệm “sản xuất”. Không còn là sản lượng đơn thuần, mà là chất lượng, tiêu chuẩn xanh, khả năng truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường toàn cầu. Nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp tuần hoàn… nếu được triển khai đúng hướng sẽ giúp giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên nước, đất, đồng thời nâng cao thu nhập cho người nông dân. Đây chính là nền tảng quan trọng của kinh tế xanh.
Thứ hai, đổi mới sáng tạo mở ra những không gian phát triển mới cho du lịch – một lĩnh vực mà Lâm Đồng có nhiều dư địa. Thay vì khai thác cảnh quan theo cách đại trà, chúng ta có thể phát triển các mô hình du lịch sinh thái, du lịch canh nông, du lịch trải nghiệm, du lịch thiền – dưỡng lão… trên nền tảng công nghệ số, dữ liệu và các giải pháp quản lý thông minh. Điều này không chỉ nâng cao giá trị dịch vụ, mà còn giúp kiểm soát tốt hơn tác động đến môi trường và văn hóa bản địa.
Thứ ba, đổi mới sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong quản trị phát triển, từ quy hoạch, sử dụng tài nguyên đến giám sát môi trường. Việc ứng dụng dữ liệu lớn, công nghệ số, các mô hình dự báo sẽ giúp chính quyền địa phương đưa ra quyết định chính xác hơn, kịp thời hơn, thay vì phản ứng bị động trước các vấn đề môi trường.
Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng đổi mới sáng tạo không thể “tự xảy ra”, mà cần một hệ sinh thái phù hợp. Đó là cơ chế chính sách khuyến khích thử nghiệm và chấp nhận rủi ro có kiểm soát; là sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân; và đặc biệt là nguồn nhân lực có tư duy mở, sẵn sàng thay đổi.
Với Lâm Đồng, điều quan trọng không phải là chạy theo những mô hình quá xa vời, mà là lựa chọn những giải pháp sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tế, có khả năng nhân rộng và tạo tác động lan tỏa. Nói cách khác, kinh tế xanh không chỉ là “mục tiêu”, còn đổi mới sáng tạo chính là “con đường” để đi đến mục tiêu đó một cách hiệu quả và bền vững. Và nếu đi đúng hướng, Lâm Đồng hoàn toàn có thể trở thành một hình mẫu về phát triển xanh dựa trên tri thức và sáng tạo, chứ không chỉ dựa vào lợi thế tự nhiên.
Lâm Đồng đang đứng trước cơ hội lớn về phát triển hạ tầng và du lịch bền vững. Dưới góc độ đại biểu Quốc hội, bà sẽ có những kiến nghị gì về chính sách đặc thù để phát triển kinh tế nông nghiệp công nghệ cao gắn với bảo vệ tài nguyên rừng?
Tôi cho rằng, thứ nhất với Lâm Đồng – nơi có độ che phủ rừng cao và đồng thời là một trung tâm nông nghiệp công nghệ cao của cả nước, bài toán không phải là “chọn một trong hai”, mà là thiết kế được một mô hình phát triển trong đó nông nghiệp và rừng cùng tồn tại, hỗ trợ và nâng giá trị cho nhau. Muốn vậy, rất cần những chính sách đủ linh hoạt, đủ khác biệt và đủ dài hạn. Trước hết, tôi kiến nghị xây dựng cơ chế tích hợp quy hoạch giữa không gian nông nghiệp công nghệ cao và không gian sinh thái rừng, thay vì tách rời như hiện nay.
Ở những vùng đệm, có thể thí điểm các mô hình nông – lâm kết hợp ứng dụng công nghệ cao, như nông nghiệp dưới tán rừng, canh tác hữu cơ gắn với bảo tồn đa dạng sinh học. Điều quan trọng là phải có khung pháp lý rõ ràng để người dân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư, đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tránh tình trạng “núp bóng” phát triển kinh tế để xâm hại rừng.
Thứ hai, cần có chính sách tài chính đặc thù để khuyến khích những mô hình vừa tạo giá trị kinh tế, vừa bảo vệ rừng. Ví dụ, mở rộng và nâng cao hiệu quả cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng theo hướng gắn với kết quả bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái; ưu đãi tín dụng xanh cho doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao thân thiện môi trường; hoặc thí điểm các cơ chế thị trường carbon ở quy mô địa phương để “lượng hóa” giá trị của rừng.
Thứ ba, tôi cho rằng cần đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng phục vụ nông nghiệp xanh, bao gồm hạ tầng số, logistics nông sản, hệ thống truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn hóa sản phẩm. Khi sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao của Lâm Đồng gắn được với câu chuyện bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, thì giá trị không chỉ nằm ở sản phẩm, mà còn nằm ở “thương hiệu sinh thái”, điều mà thị trường trong và ngoài nước ngày càng coi trọng.
Thứ tư, cần có chính sách thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực này, từ kỹ sư nông nghiệp, chuyên gia công nghệ đến đội ngũ quản lý hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương. Đồng thời, hỗ trợ người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng, tiếp cận với tri thức, kỹ năng và sinh kế bền vững, để họ trở thành chủ thể của quá trình bảo vệ rừng, chứ không chỉ là đối tượng thụ hưởng.
Cuối cùng, tôi nhấn mạnh vai trò của giám sát và thực thi chính sách. Chính sách dù tốt đến đâu nhưng nếu không được triển khai nghiêm túc, minh bạch thì rất dễ bị biến tướng. Do đó, cần thiết lập cơ chế giám sát đa tầng, có sự tham gia của chính quyền, đại biểu dân cử và cộng đồng, để đảm bảo mỗi bước phát triển kinh tế đều không đánh đổi bằng tài nguyên rừng. Tôi tin rằng, nếu có được những chính sách phù hợp, Lâm Đồng không chỉ phát triển mạnh về nông nghiệp công nghệ cao, mà còn có thể trở thành một hình mẫu về kinh tế xanh, nơi rừng không phải là “giới hạn”, mà chính là “lợi thế chiến lược” cho phát triển dài hạn.
Trong Quốc hội khóa XV, bà đã có nhiều đóng góp sắc sảo tại các phiên thảo luận. Ở khóa XVI này, đâu là dự án luật mà bà đặc biệt quan tâm và sẽ dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu, góp ý?
Bước sang khóa XVI, tôi không đặt trọng tâm vào một dự án luật đơn lẻ, mà lựa chọn tiếp cận theo những “cụm chính sách” có tác động trực tiếp và lâu dài đến chất lượng phát triển và đời sống người dân. Tuy nhiên, nếu phải nói đến những lĩnh vực tôi sẽ dành nhiều tâm huyết, thì đó là nông nghiệp – đất đai, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ và an sinh xã hội.
Trước hết, với một địa phương như Lâm Đồng, tôi đặc biệt quan tâm đến các dự án luật liên quan đến đất đai và nông nghiệp, nhất là những quy định tạo hành lang pháp lý cho nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn. Vấn đề không chỉ là tích tụ, tập trung đất đai, mà còn là cơ chế sử dụng đất linh hoạt, hiệu quả, gắn với bảo vệ tài nguyên rừng và sinh thái. Tôi muốn các quy định pháp luật phải thực sự “mở đường” cho những mô hình sản xuất mới, thay vì vô tình trở thành rào cản.
Ở lĩnh vực y tế, tôi quan tâm đến việc hoàn thiện chính sách để nâng cao năng lực y tế cơ sở, bảo đảm quyền lợi người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách công bằng và chất lượng. Đại dịch vừa qua cho thấy hệ thống y tế không chỉ cần nguồn lực, mà còn cần cơ chế vận hành linh hoạt, chủ động và bền vững hơn.
Với giáo dục, tôi cho rằng cần tiếp tục đổi mới theo hướng thực chất, gắn với nhu cầu phát triển của xã hội và thị trường lao động. Đặc biệt, ở những địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách giáo dục phải vừa bảo đảm cơ hội tiếp cận, vừa tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa, đồng thời trang bị cho người học những kỹ năng để thích ứng với một thế giới đang thay đổi rất nhanh.
Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, tôi dành sự quan tâm lớn đến việc hoàn thiện khung pháp lý cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển các mô hình kinh tế mới. Nếu không có cơ chế đủ “mở” và khuyến khích thử nghiệm, thì rất khó để khoa học – công nghệ thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng, đặc biệt là trong các lĩnh vực như nông nghiệp công nghệ cao hay kinh tế xanh.
An sinh xã hội là một trụ cột mà tôi cho rằng cần được nhìn nhận một cách toàn diện hơn trong bối cảnh mới. Không chỉ là hỗ trợ khi khó khăn, mà còn là tạo điều kiện để người dân có khả năng tự vươn lên, thích ứng với những biến động về kinh tế, việc làm và môi trường. Các chính sách an sinh cần hướng đến tính bền vững, bao trùm và công bằng, để không ai bị bỏ lại phía sau.
Tôi nghĩ rằng, điểm chung khi tham gia góp ý các dự án luật này là phải luôn đặt câu hỏi: chính sách đó sẽ tác động như thế nào đến đời sống thực tế của người dân, đặc biệt là những nhóm dễ bị tổn thương. Từ đó, kiên trì theo đuổi những điều chỉnh cần thiết để pháp luật không chỉ đúng về nguyên tắc, mà còn “sống được” trong thực tiễn.
Trân trọng cảm ơn bà!
Lê Vân thực hiện/Báo Tin tức và Dân tộc
52 phút trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
17 giờ trước
18 giờ trước
18 giờ trước
21 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 giờ trước
2 phút trước
3 phút trước
9 phút trước
9 phút trước
12 phút trước
12 phút trước
13 phút trước
15 phút trước