🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Đà Nẵng phấn đấu hình thành một cơ sở dữ liệu ngoại vụ thực sự 'đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung'

2 giờ trước
Việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược trong công tác đối ngoại với nền tảng công nghệ số hiện đại chính là chìa khóa để nâng tầm hiệu quả đối ngoại cơ sở, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng TP. Đà Nẵng trở thành trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ, đối ngoại hàng đầu khu vực miền Trung-Tây Nguyên.

Nghị quyết số 57 tạo nền tảng vững chắc

Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 204-QĐ/TW, trong 6 tháng đầu năm 2026, Thành ủy, Ban Chỉ đạo 57 TP. Đà Nẵng đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ, đạt được nhiều kết quả nổi bật, tạo nền tảng vững chắc cho việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào các lĩnh vực, trong đó có công tác đối ngoại.

Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng Nguyễn Thị Ánh Thi nêu một số kết quả tiêu biểu như: Về thể chế, chính sách, HĐND thành phố đã ban hành 14 Nghị quyết chuyên đề, UBND thành phố ban hành 6 Quyết định và hơn 40 chương trình, kế hoạch, đề án về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; trong đó có 3 đề án thí điểm mô hình đột phá: Bản sao số đô thị, Sàn dữ liệu và ứng dụng công nghệ chuỗi khối.

Về hạ tầng số và dữ liệu, Thành phố đã ban hành Kiến trúc dữ liệu theo Khung Kiến trúc dữ liệu quốc gia, các danh mục dữ liệu cốt lõi, dữ liệu dùng chung, dữ liệu mở; đã cung cấp hơn 1.584 bộ dữ liệu, 7.283 bảng dữ liệu và hơn 1.000 dịch vụ API phục vụ công tác giám sát, điều hành. Hệ thống Cổng đăng nhập tập trung (SSO Gateway) bằng tài khoản VNeID, nền tảng Da Nang Smart City (hơn 1,9 triệu lượt tải) và Trợ lý số DaNang AI đã và đang được vận hành, khai thác hiệu quả.

Về cải cách hành chính, dịch vụ công trực tuyến, tính đến ngày 29/5/2026, thành phố đạt 96,5 điểm, xếp thứ 8/34 tỉnh, thành phố về chỉ số giải quyết thủ tục hành chính, tăng 25 bậc so với cuối năm 2025; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 91,2%, tỷ lệ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đạt 97,7%.

Về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, Thành phố đang triển khai các công trình hạ tầng trọng điểm như Dự án hạ tầng tính toán phục vụ thiết kế chip vi mạch bán dẫn và trí tuệ nhân tạo, Không gian đổi mới sáng tạo Đà Nẵng, Trung tâm Công nghệ sinh học và Phòng thí nghiệm Lab-Fab về đóng gói tiên tiến vi mạch bán dẫn.

"Những kết quả nêu trên là minh chứng sinh động cho quyết tâm chính trị rất cao của thành phố trong thực hiện Nghị quyết số 57, đồng thời là nền tảng hạ tầng số, dữ liệu số dùng chung hết sức quan trọng để các ngành, lĩnh vực, trong đó có ngành ngoại vụ, kế thừa, khai thác, ứng dụng vào công tác chuyên môn của mình", bà Nguyễn Thị Ánh Thi khẳng định.

Để công tác đối ngoại cơ sở thực sự “chuyển mình”

Trên nền tảng chung đó, bà Nguyễn Thị Ánh Thi cho rằng, Sở Ngoại vụ thành phố Đà Nẵng đã chủ động, kiên trì triển khai lộ trình số hóa công tác quản lý hoạt động đối ngoại qua nhiều giai đoạn, gắn với đặc thù khối lượng công việc ngày càng lớn sau khi hợp nhất địa giới hành chính với tỉnh Quảng Nam (cũ), với hơn 110 thỏa thuận quốc tế được kế thừa, hàng nghìn lượt đoàn ra, đoàn vào mỗi năm.

Cụ thể, Sở đã xây dựng và hoàn thành Phần mềm cơ sở dữ liệu chuyên ngành ngoại vụ giai đoạn 1 vào năm 2020, làm nền tảng ban đầu để số hóa việc theo dõi các thỏa thuận quốc tế, đoàn ra, đoàn vào.

Đến năm 2025, phần mềm tiếp tục được nâng cấp lên giai đoạn 2, mở rộng phạm vi quản lý dữ liệu về các chương trình, dự án viện trợ nước ngoài, viện trợ phi chính phủ và các đối tác quốc tế, đồng thời gắn với nền tảng quản lý văn bản điện tử liên thông, chữ ký số, giúp rút ngắn thời gian luân chuyển văn bản giữa Sở Ngoại vụ, các sở, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân thành phố.

Nhìn thẳng vào thực tế, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng nhận thấy, quá trình vận hành hai giai đoạn vừa qua cũng cho thấy còn không ít bất cập: dữ liệu đầu vào và báo cáo đầu ra chưa đạt được kết quả như mong muốn, chưa đáp ứng tốt yêu cầu tổng hợp, phân tích, đánh giá phục vụ công tác quản trị, điều hành.

Đây cũng chính là cơ sở thực tiễn để thành phố xác định phải khẩn trương rà soát, xây dựng giai đoạn 3 của hệ thống, hướng tới mục tiêu hình thành một cơ sở dữ liệu ngoại vụ thực sự “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” theo đúng yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW và các nghị quyết, quy định của Trung ương về chuyển đổi số, quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại.

Song song với việc phát triển cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thành phố cũng đã triển khai phần mềm quản lý đoàn ra, đoàn vào trực tuyến; ứng dụng công cụ số theo dõi, đánh giá kết quả công việc hằng tháng gắn với bộ tiêu chí KPI làm cơ sở đánh giá thi đua, khen thưởng minh bạch, kịp thời; đồng thời thiết lập các kênh trao đổi thông tin trực tuyến với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam và các đối tác quốc tế.

Việc số hóa công tác đối ngoại của Sở Ngoại vụ được đặt trong tổng thể hạ tầng số dùng chung của thành phố - với nền tảng chính quyền điện tử, trục tích hợp dữ liệu, cổng đăng nhập tập trung SSO Gateway, ứng dụng Da Nang Smart City - là điều kiện thuận lợi để ngành ngoại vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu liên thông, phục vụ công tác tham mưu nhanh, chính xác hơn.

Trong thời gian tới, để công tác đối ngoại cơ sở thực sự “chuyển mình” theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, thành phố Đà Nẵng xác định một số định hướng trọng tâm sau:

Thứ nhất, khẩn trương xây dựng và đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu chuyên ngành ngoại vụ giai đoạn 3, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, tích hợp đồng bộ với Kiến trúc dữ liệu và Trung tâm dữ liệu dùng chung của thành phố.

Thứ hai, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu đối ngoại với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và hệ thống thông tin của các bộ, ngành Trung ương, trước hết là Bộ Ngoại giao, phục vụ công tác theo dõi, cảnh báo về hiệu lực các thỏa thuận quốc tế, tổng hợp báo cáo nhanh, chính xác.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) trong công tác nghiên cứu, phân tích, dự báo tình hình quốc tế, khu vực và tham mưu chính sách đối ngoại, từng bước hình thành “trợ lý số” hỗ trợ cán bộ làm công tác đối ngoại ở cơ sở.

Thứ tư, tiếp tục số hóa toàn diện quy trình nghiệp vụ: quản lý đoàn ra, đoàn vào, tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế, quản lý chương trình, dự án hợp tác quốc tế, viện trợ nước ngoài trên môi trường điện tử, gắn với chữ ký số, cổng dịch vụ công trực tuyến.

Thứ năm, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác đối ngoại; bảo đảm an toàn, an ninh mạng, an ninh dữ liệu trong quá trình số hóa theo đúng tinh thần Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31/12/2025 của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị.

Nâng cấp cơ sở dữ liệu chuyên ngành ngoại vụ lên giai đoạn 3 là đòi hỏi cấp thiết

Từ thực tiễn triển khai tại Đà Nẵng, bà Nguyễn Thị Ánh Thi nhận thấy việc nâng cấp cơ sở dữ liệu chuyên ngành ngoại vụ lên giai đoạn 3 không chỉ là yêu cầu nội tại của từng địa phương, mà đã trở thành đòi hỏi cấp thiết, mang tính hệ thống của toàn ngành, xuất phát từ bốn lý do chính:

Một là, khối lượng công việc đối ngoại địa phương sau hợp nhất địa giới hành chính với tỉnh Quảng Nam (cũ) tăng nhanh cả về số lượng thỏa thuận quốc tế được kế thừa, đoàn ra, đoàn vào, chương trình, dự án viện trợ, đối tác quốc tế trên địa bàn mở rộng, đòi hỏi năng lực lưu trữ, xử lý, phân tích dữ liệu ở mức cao hơn nhiều so với hai giai đoạn trước; đồng thời đặt ra yêu cầu phải rà soát, hợp nhất, làm sạch dữ liệu của hai địa phương cũ về cùng một chuẩn, một hệ thống thống nhất.

Hai là, hiện nay, Sở Ngoại vụ được giao vai trò chủ trì, đầu mối theo dõi, đôn đốc, tổng hợp, tham mưu báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ về hội nhập quốc tế, thỏa thuận quốc tế.

Ba là, thông báo Kết luận ngày 25/6/2026 tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã yêu cầu đến hết năm 2026 phải tổng rà soát, làm sạch, chuẩn hóa, kết nối và tổ chức khai thác dữ liệu trong toàn hệ thống chính trị theo hướng ưu tiên hạ tầng dùng chung, quán triệt nguyên tắc “không yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai, cung cấp lại”.

Bốn là, việc đầu tư các chức năng hỗ trợ nhập liệu, tủ hồ sơ điện tử, báo cáo tổng hợp và ứng dụng công nghệ OCR/AI là cần thiết nhằm nâng cao năng suất xử lý công việc, giảm thời gian nhập liệu thủ công, hạn chế sai sót và tăng khả năng khai thác dữ liệu.

Từ những lý do trên, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng đề xuất, kiến nghị Bộ Ngoại giao một số nội dung sau:

Một là, sớm nghiên cứu, hướng dẫn, ban hành Khung kiến trúc chung của ngành ngoại vụ (áp dụng thống nhất ở cả cấp Bộ và cấp tỉnh), trong đó xác định rõ kiến trúc nghiệp vụ, kiến trúc dữ liệu, kiến trúc ứng dụng, kiến trúc công nghệ và kiến trúc an toàn thông tin; danh mục dữ liệu cốt lõi, dữ liệu dùng chung, dữ liệu mở của ngành; chuẩn kết nối, chuẩn định dạng, mã định danh dùng chung; cơ chế phân cấp quản lý, cập nhật, khai thác, chia sẻ dữ liệu giữa Bộ Ngoại giao với các Sở Ngoại vụ và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, bảo đảm phù hợp với Luật Dữ liệu năm 2024 và Khung Kiến trúc Chính phủ số quốc gia.

Hai là, cùng với việc ban hành Khung kiến trúc chung, đề nghị Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp rà soát, chuẩn hóa và công bố thống nhất quy trình các thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp trong lĩnh vực đối ngoại ở địa phương theo hướng cắt giảm thành phần hồ sơ, rút ngắn thời gian giải quyết, thực hiện toàn trình trên môi trường điện tử, tích hợp, liên thông với Cổng Dịch vụ công quốc gia và cổng dịch vụ công của các địa phương, không để cán bộ và người dân phải thao tác trên nhiều nền tảng khác nhau như thực tế một số nơi đang gặp phải.

Ba là, đề nghị Bộ Ngoại giao nghiên cứu, ban hành bộ tiêu chí, chỉ số đánh giá mức độ chuyển đổi số và trình độ cơ sở dữ liệu trong công tác đối ngoại địa phương, áp dụng đồng bộ, thống nhất trong toàn ngành từ Trung ương đến địa phương, làm cơ sở để các địa phương tự đánh giá, so sánh, học hỏi lẫn nhau, đồng thời giúp Bộ Ngoại giao có công cụ theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình chuyển đổi số của toàn ngành một cách thực chất, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu tại Thông báo Kết luận ngày 25/6/2026 và Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026 nêu trên.

“Chúng tôi tin rằng, khi có Khung kiến trúc chung, quy trình thủ tục hành chính thống nhất và bộ tiêu chí đánh giá đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, việc đầu tư nâng cấp cơ sở dữ liệu chuyên ngành ngoại vụ giai đoạn 3 tại Đà Nẵng nói riêng và các địa phương nói chung sẽ phát huy hiệu quả cao hơn nhiều, thực sự trở thành nền tảng phục vụ công tác quản lý nhà nước về đối ngoại và phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.

Với quyết tâm chính trị cao, cách làm bài bản, kiên trì qua từng giai đoạn, chúng tôi tin tưởng rằng, việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược trong công tác đối ngoại với nền tảng công nghệ số hiện đại chính là chìa khóa để nâng tầm hiệu quả đối ngoại cơ sở, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ, đối ngoại hàng đầu khu vực miền Trung-Tây Nguyên”, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng Nguyễn Thị Ánh Thi nhấn mạnh.

Việt An

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ