Chiếc Cúp
“Một truyện phim vô cùng độc đáo, thật sự hài hước. Vui đến nổi có thể khiến khán giả trút bỏ hết mọi phiền toái trong cuộc sống hằng ngày”.
Trên đây là một vài câu phê bình phim “The Cup”, tức là chiếc Cúp giải bóng đá quốc tế mỗi 4 năm tranh nhau một lần. Nhưng phim không phải là về những cầu thủ cự phách như Pélé, Ronaldo..., hoặc những pha làm bàn khiến trăm triệu người trên thế giới, và cả Việt Nam, mê say theo dõi. Mà phim nói về nếp sống của một tu viện Tây Tạng trên đất Ấn; đạo diễn Lama Khyentse Norbu và tất cả diễn viên đều là các tăng sĩ thật sự, chỉ có một hai nhà cố vấn chuyên môn kỹ thuật là người Úc mà thôi.
Ngay cả tên phim cũng mang hai ý nghĩa châm biếm, đối nghịch nhau. “Cup” ngoài là chiếc Cúp giải thưởng hạng nhất cho các trận giao đấu thể thao như bóng đá, tennis, bóng bàn, v.v.., còn có nghĩa là cái tách, cái ly hay cái tô trẹt nhỏ dùng để uống nước. Cho nên khi Geko-la vào hỏi ý kiến phương trượng trụ trì có nên cho phép tăng sinh trẻ mướn một máy truyền hình để xem trận chung kết vào năm 1998 giữa Pháp và Argentina tranh nhau chiếc Cúp bóng đá huy hoàng này không, thì khán giả lại nhìn thấy vị trụ trì già từ từ lôi ra dưới gầm giường một cái tách bằng đất nung đỏ, rồi cầm bình lên từ từ rót trà vào tách, xong đặt bình xuống, hai tay nâng tách lên, mủm mỉm cười chậm chạp hỏi lại: “cái tách hả?”.
Hầu như trọn phim đều có những lối diễn đạt hai ý nghĩa như thế, khi thì châm biếm, khi thì khôi hài, khi thì mỉa mai, nhưng rất nhẹ nhàng, thoảng qua, đủ nói lên một ý nghĩa thâm trầm trong nếp sống tu hành cởi mở theo truyền thống Tây Tạng. Có lẽ, người mượn băng này cũng ngỡ là phim trình chiếu những cảnh sôi nổi về chiếc Cúp của bóng đá cho nên chỉ xem được một đoạn thì nhàm chán nên mang trả, không thèm quay lại từ đầu theo luật thư viện, để người sau sẵn sàng thưởng thức. Có thể nói đây chỉ là một bộ phim hạng 2, hay hạng 3, với một cốt chuyện tầm thường nói về cuộc sống bình thường hàng ngày trong một tu viện nhỏ; diễn viên đều là tăng sĩ thật sự không cần diễn xuất như minh tinh thượng thặng, phí tổn quay phim chắc cũng chẳng là bao. Tuy nhiên có một đòi hỏi là ai xem phim này cũng cần phải có một khái niệm về Tây Tạng, một số tăng sĩ cùng đức Dalai Lama.

The Cup nói về nếp sống của một tu viện Tây Tạng trên đất Ấn; đạo diễn Lama Khyentse Norbu và tất cả diễn viên đều là các tăng sĩ thật sự
Cốt chuyện cũng thật giản dị, không có những tình tiết éo le khúc mắc hay những màn hào hứng, rùng rợn hoặc hồi hộp có sức lôi kéo khán giả nín hơi theo dõi cho đến khi thở phào nhẹ nhõm. Phim trình bày một khía cạnh thực tế trong một tu viện nhỏ, có cái tên thật dài là Peme Awam Choegar Gyurme Ling với các tăng sinh Tây Tạng thuộc thế hệ thứ ba, không hề biết truyền thống của họ ra sao; những chàng trai trẻ mê bóng đá đến nỗi nửa đêm leo rào trốn ra ngoài, vượt những khu đồng hoang chạy đến nhà một người Ấn ở làng kế bên, mua vé vào xem màn bán kết của giải bóng đá quốc tế năm 1998. Bị đuổi ra ngoài vì sôi nổi phê bình làm mất trật tự, chạy về lại chùa len lén mở cổng thì bị bắt quả tang, bị phạt phải vào bếp nấu ăn ba tháng. Thay vì biết sám hối, lại đòi mướn một TV để được xem trận chung kết cho bằng được, đổi lại sẽ chăm chỉ học hành hơn, sẽ đi dự các bài giảng pháp đều đặn hơn.
Chuyện diễn tiến với một vài nhân vật điển hình; vai chánh là anh chàng Orygen quậy phá, láu lỉnh, khoảng 16-17 tuổi, cầm đầu anh chàng Lodo khoảng 20-22 và đầu bếp thực thụ Kunsang lớn tuổi hơn nữa, cả ba đều mê bóng đá và bằng bất cứ giá nào cũng phải theo dõi trận chung kết giải bóng quốc tế 1998 cho bằng được. Có tri sự Geko-la nghiêm khắc, khó gần để gìn giữ nếp sống tự viện được trật tự oai nghi nhưng có một tấm lòng vô cùng độ lượng vị tha. Có Lama Godu khờ khờ dại dại, tối ngày chỉ biết cầm chiếc trống tay quay tròn, bất cần đời; nhưng hễ ai có việc gì lo lắng thì đến kiếm tìm ông xin đoán quẻ. Có anh chàng Cheying Pading ngủ ngày, lúc nào cũng ngủ, lên chánh điện tụng kinh cũng khò khò, nghe giảng bài cũng gà gật, giờ hành thiền thì trùm mền ngáy. Có hai cậu cháu Palden và Nyima vì quá khốn khổ tại quê nhà nên thoát ly, xin vào tu viện Peme Ling để nương nhờ cửa Phật; gia tài chỉ có một cái đồng hồ nhỏ đeo nơi cổ Nyima là quà cúng dường để được thâu nhận.
Cuối thập niên 1950, Ðức Dalai Lama, khởi hành trong một đêm lạnh giá tại Lhasa, đến vùng tây bắc còn hoang tàn hẻo lánh của Ấn Ðộ - Dharamsala. Từ đó đến nay, đã trải qua hơn 3 thế hệ. Những người Tây Tạng trẻ tuổi, phần lớn chẳng biết quê hương của họ ra sao, chỉ là theo truyền thống, xuất gia, tụng kinh, niệm Phật, quanh quẩn trong tu viện an toàn của họ. Cho nên, khi Palden qua trăm ngàn khổ cực vượt thoát đến tu viện, được phép xuất gia, cạo đầu, thì ngớ ngẩn hỏi:
- Tại sao phải cạo đầu nhỉ?
Anh chàng Kunsang ra vẻ lanh lợi, giải thích:
- Ðể cho mấy cô gái thấy mình xấu xí, lánh đi, cho mình dễ tu.
Có thật vậy không? Chuyện nam nữ thương nhau là thường tình thế sự, đi tu, cát ái từ thân, là lội dòng nước ngược, là phá xé màn vô minh của tham dục khiến con người trôi lăn trong dòng phiền trược. Nhưng anh chàng Lodo thực tế hơn, thở dài:
- Ðáng tiếc là mấy cô gái lại quyến rũ quá, làm sao mà quên họ trong đầu óc để an tâm tụng kinh ngồi thiền cho được?

Chuyện phim cũng là những phản ánh chân thực đời sống nội tâm của những tăng sĩ trẻ
Anh đã thổ lộ tâm tình của một tăng sĩ trẻ. Tu thì tu, cứ tụng kinh, cứ ngồi thiền, các cô gái có thể chê anh xấu xí vì cái đầu trọc lóc, nhưng cũng không ngăn được anh mê mẩn nhớ nghĩ đến mấy cô, ngay cả trong lúc làm lễ, ngồi thiền, hay tụng kinh. Ai có thể cấm đoán đầu óc anh mơ tưởng gì, suy nghĩ gì? Chỉ có anh mới có thể ngăn cấm đầu óc anh đừng lăng xăng lộn xộn mà thôi. Có lẽ vì thế mà anh chàng Cheying Pading cứ ngủ gà ngủ gật cho yên chuyện, không cần tưởng Phật cũng chẳng nhớ mấy cô; nhờ vậy dành dụm được nhiều tiền hơn các bạn đồng tu, để cuối cùng rồi cũng bị Orgyen lục túi moi ra để chung góp mướn cái TV.
Cảnh vị sư già trụ trì Lama Chonjor cứ lôi ra trong mấy cái rương chất đống những kinh sách, những món đồ lặt vặt thu thập từ bao nhiêu năm qua, lôi hình đức Dalai Lama ra, hai tay cầm đưa lên trán kính cẩn lễ bái, rồi cất lại trong rương, gương mặt rầu rĩ, nói lên một nỗi buồn tha hương thật thấm thía. Rồi Geko-la bước vào, để lon Coca Cola xuống đất, rầy nhẹ ông:
- Thầy lại vậy nữa rồi! Cứ trông mong ngày được hồi hương hoài?
Tuyệt vọng! Ông không còn trông mong được trở về lại quê hương thân yêu của ông nữa rồi. Ðã hơn ba mươi năm rồi, còn gì. Sư Chonjor-la gật đầu, rồi cố gượng cười:
- Ờ! Là người tu, đáng lý không nên chấp mắc vào việc gì cả, phải không?
Một câu nói nhẹ nhàng nhưng mang nhiều ý nghĩa trong công cuộc tu hành để đạt đến thái độ vô chấp. Anh chàng thị giả Oga thì cứ soạn món này ra cho ông, cất món kia lại, âm thầm không nói lời nào. Geko-la đến là vì trụ trì Chonjor-la lo lắng cho số phận của hai cậu cháu Palden và Nyima, đã thoát ly và đang trên đường tìm về tu viện.
- Vậy thôi thì để con đi hỏi ông khùng bói thêm lần nữa?
Ông bói toán khùng là một Lama bất cần đời, ngày đêm chỉ chú tâm quay kinh luân, là một truyền thống của Phật giáo Tây Tạng, là một phương pháp chú tâm quán tưởng như pháp môn niệm Phật, và cũng đồng thời bị suy hóa thành một hình thức mê tín dị đoan. Như Hàn Sơn và Thập Ðắc khi xưa, Lama Godu-“khùng” nhưng không phải u mê, ông thu thập mọi thứ để lổn ngổn trong căn phòng dơ hôi, thứ nào cũng không cần đến. Geko-la bước vào, đưa cho ông lon Coca Cola trống rỗng, làm quà:
- Chắc thầy thích tích trữ món này?
- Ừ, để đó đi.
Rồi Geko-la vào đề :
- Thầy bói giúp xem hai cậu cháu Palden có sao không? Ðáng lý là hôm nay phải đến đây rồi.
- Mới bói hôm qua, bình yên mà, cần gì đoán nữa.
- Thì cứ bói lần nữa xem sao.
Lama Godu-la bĩu môi:
- Mấy người coi bói chỉ muốn nghe tin vui mà thôi.
Ai đi tìm thầy bói mà không muốn nghe tin vui bao giờ; nghe đoán tin buồn thì lại lo lắng sợ hãi thêm. Việc tiên tri bói toán này cũng là một truyền thống vẫn còn gìn giữ trong Mật giáo Tây Tạng. Trước kia, khi vị Dalai Lama thứ 14 bấy giờ chỉ mới mười mấy tuổi, quyết định rời Lhasa để sang Ấn Độ, cũng phải hỏi ý của vị cốt đồng, không phải một mà đến hai, ba lần, rồi mới ra đi. Vậy mà Tây Tạng cũng không giấu phương thức tiên tri có vẻ mê tín dị đoan này.
Có phải chăng những gì linh thiêng khuất mặt khuất mày là sự thật hiện hữu, mà chúng ta, vì cứ huênh hoang tự cho là chánh giáo nên đã đẩy những hình thức tín ngưỡng đó xuống hàng tà đạo. Chánh giáo hay tà đạo chẳng qua là do thể hiện nơi mục đích mà thôi; thần thông không phải để biểu diễn kiếm tiền trục lợi mà là để cứu nguy khi cần thiết, thế thôi.
Quả như Godu-la tiên đoán, hai cậu cháu Palden và Nyima được liên lạc viên Thinley Nudi dẫn đường đến tu viện Peme an toàn. Cả ba vào đảnh lễ Lama Chonjor-la, cuộc gặp gỡ rất ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa và biểu hiện truyền thống khi anh Thinley đảnh lễ sư trụ trì, hai tay kính cẩn dâng lên chiếc khăn cát tường trắng. Sư nhận, để qua một bên, đến khi ra về thì sư choàng lại vào cổ anh ta, thế là chúc phúc xong. Với hai cậu cháu Palden, thì ông cậu còn biết lạy, trong khi chú cháu không biết cả lột mũ xuống, là một khôi hài rất tế nhị trong đó có một vài châm biếm nhẹ nhàng cho thấy càng lúc thì những tập quán truyền thống càng mất dần ý nghĩa đối với những giới trẻ lớn lên trên đất tha hương.
Rồi vị thị giả Oga mang trà đãi khách. Trà được pha với đề hồ (một loại bơ làm bằng sữa dê), khách dùng tay bốc một nắm bột, bỏ vào tách, trà pha vào rồi khách nhồi nặn cho đến khi trà và bột quyện nhau thành một thứ như xôi, bỏ vào miệng; đây là thức ăn thuần túy của người Tây Tạng. Rồi sư trụ trì Chonjor- hỏi:
- Dân mình bây giờ sống ra sao?
- Bạch, vẫn còn ăn cơm.
Gửi gắm 2 cậu cháu Palden rồi, anh chàng Thinley từ giã, để tiếp tục chuyển người ra thêm nữa, mặc dầu biết đó là một vai trò rất nguy hiểm, sau khi dặn dò Nyima phải ráng tu để đừng phụ lòng bà mẹ; gia tài chỉ có một chiếc đồng hồ nhỏ dâng lên Chonjor-la làm lễ nhập viện và được sư trao lại giữ làm niềm nhớ thương. Cạo đầu xong, học được một buổi với Geko-la, còn đang tập vấn y, thì ‘bị’ nhóm Orgyen rủ vượt rào đêm đó để xem trận bán kết. Palden còn đang loay hoay với tấm y hạ, không biết làm sao cột giây thắt lưng cho y đừng tuột thì Orgyen thúc hối:
- Đừng lo! Rồi sẽ quen, truyền thống hai ngàn năm mà! Thôi, nhanh lên, kẻo trễ.
Hồi chiều, hai cậu cháu được cạo đầu và truyền giới xong, thì Geko-la dạy cho một ít câu kinh, rồi đuổi ra ngoài. Họ vừa xoay người lui đi thì khán giả thấy Geko-la từ từ lôi dưới nệm ra một tạp chí, nói về bóng đá. Thì ra ông cũng mê say trò thể thao này như ai, cũng đang rất muốn theo dõi trận chung kết nhưng có lẽ vì thể diện, ông không bộc lộ hăng hái như Orgyen, thế thôi. Mấy anh chàng Orgyen, Lodo và Kunsang thì hăng say hơn, dám vượt rào trong đêm để vào trong xóm, nơi một người Ấn có máy TV, bán vé vào cửa cho mọi người vào xem. Lại lôi theo cả Palden mới cạo đầu hồi chiều vào. Ba chàng lì lợm leo qua rào gọn hơ, cho thấy họ đã có nhiều kinh nghiệm leo rào, trong khi y của Palden bị móc dính kẽm gai, lại còn bị Orgyen chế nhạo:
- Leo rào có một chút mà còn lôi thôi?
Trở về bị bắt gặp quả tang, Geko-la giận dữ phạt họ nấu ăn 3 tháng, Palden được miễn vì mới phạm thanh quy lần đầu. Rồi ông báo cáo với trụ trì:
- Bọn trẻ ngày nay khó dạy dỗ quá. Chúng dám vượt rào đi xem giải bóng đá!
Sư trụ trì ngây thơ hỏi:
- Giải bóng đá (the Cup) là gì vậy?
- Dạ...ơ ... là hai quốc gia tân tiến tranh nhau một quả bóng!
- Kỳ chưa? Hai nước tranh nhau chỉ có một quả bóng?... Mà có bạo động đánh đấm nhau kịch liệt không?
- Thỉnh thoảng cũng có...
- À... mà sao anh rành rẽ chuyện đó vậy?
Thế là Geko-la bị hớ, mặt ngẩn ra, cười khỏa lấp. Rồi Orgyen xỏ mũi Lodo đến tìm ông, nhất định đòi mướn một TV cho bằng được để xem trận chung kết, hứa hẹn là nếu được thì sẽ chăm chỉ tu học hơn. Geko-la lại đi tìm trụ trì lần nữa.

Cốt chuyện thật giản dị bình thường như cuộc sống tu hành bình thường giản dị của các tăng sinh tu viện Peme, ngoại trừ mỗi 4 năm có chiếc Cúp cho trận bóng đá quốc tế thì không kể
- Bọn tăng sinh đòi xem cho bằng được trận tranh Cúp (the Cup) tối nay đó thầy!
Vị sư già từ từ lôi cái tách trẹt dưới gầm giường lên, rót trà vào tách rồi tủm tỉm cười, hỏi:
- Cái tách (the cup) hả?
- Không phải. Là chuyện hai nước tân tiến tranh nhau một quả bóng đó!
- Vậy à? Mà khi nào thì họ tranh nhau quả bóng đó?
- Thưa, 12 giờ khuya đêm nay.
Chonjor-la ngẩn người ra:
- Kỳ chưa? Sao lại chọn vào lúc nửa đêm mà tranh dành nhau, chỉ có một quả bóng? Lạ thật!
Nhưng rồi sư cũng đồng ý. Hai chàng Orgyen và Lodo ngồi trước sân, lo lắng bồn chồn vì biết đòi hỏi của họ khó mà được chấp thuận; thì Geko-la bước ra, cũng gương mặt rất nghiêm khắc, hất hàm hỏi:
- Làm sao có tiền?
- Hả? ...
- Tiền để mướn TV đó!
Thiệt là không thể tưởng tượng. Hai anh chàng tuôn chạy reo hò mừng rỡ rồi chia nhau đi thâu tiền bạn đồng học, nhưng vẫn chưa yên, bị ông chủ tiệm người Ấn vèo thêm 100 ru-pi nữa.
- Ông nói chỉ có 200 ru-pi mà!
- Nhưng đây là trận chung kết, 300. Mướn hay không. 5 giờ chiều nay tôi đóng cửa.
Thế là phải chạy về lận lưng anh chàng trùm mền ngủ ngày thêm được một ít, nhưng vẫn chưa đủ. Orgyen chạy tìm ông bói toán khùng điên đang trong phòng tắm, đập cửa:
- Godu-la, cho xin ít tiền đi mướn TV.
- Ði chỗ khác chơi. Tôi không có tiền.
- Con biết sư có tiền nhiều mà, làm ơn cho xin một ít đi.
- Sao mày biết tao có tiền?
- Sư bói toán cho người ta, họ cúng dường sư thiếu gì.
Sư Godu mở cửa ra, đầu cổ ướt át.
- Trời đất! Hồi nãy con cho sư bột để rửa cái tách dơ của sư mà, đâu phải để gội đầu.
- Tóc, tai, mặt mũi, tay chân gì thì cũng là một. Bột để rửa thì rửa tách cũng vậy, rửa tóc cũng vậy, có sai khác gì đâu.
Rồi sư đóng sập cửa lại. Anh chàng lém lỉnh không chịu thua, thuận tay khóa cửa rồi réo lên:
- Con khóa cửa sư rồi. Ðưa tiền đi thì con mở cửa cho.
Nhưng rồi sư cũng phải chui một tờ 20 ru-pi ra dưới ngạch cửa.
- Mở cửa ra mau!
Orgyen cầm tiền lên, nhét chìa khóa vào dưới ngạch cửa, chạy đi:
- Cho sư ở đó mà rửa tóc!
Nhưng cũng vẫn chưa đủ, làm sao bây giờ. Cậu bé Nyima thì bất cần những lăng xăng chạy đi chạy lại của đám đông, tay luôn mân mê chiếc đồng hồ trên tay. Lodo huých nhẹ Palden:
- Hay là mượn đỡ chiếc đồng hồ đó đi.
Palden nhăn nhó:
- Không được đâu. Ðồng hồ của mẹ nó cho, nó quý lắm. Không nên đâu.
Orgyen chen vào:
- Không sao đâu. Chỉ mượn để cầm thôi mà. Ngày mai chuộc lại trả cho nó.
Cực chẳng đã Palden ngần ngừ đi nài nĩ, òn ĩ với cậu cháu, rốt cuộc cũng tóm được đồng hồ vào tay. Thế là cả một đoàn mười mấy tăng sinh tranh nhau trèo lên chiếc xe vận tải cũ kỹ, hò reo. Có lòng từ bi muốn giúp người cũng phải chờ xem xong trận chung kết này rồi mới tính sau.
Việc mượn chiếc đồng hồ của Nyima cầm cho đủ tiền mướn TV cũng chính là cái gút thắt để giải mở cốt chuyện. Ai nấy tưng bừng nối dây ăng-ten để bắt sóng TV cho đúng đài, xô đẩy tranh nhau giành ngồi vào ghế đầu, cả sư trụ trì cũng đến coi cho biết, và Geko-la thì vẫn lạnh lùng nhưng trong lòng ông chắc cũng thích thú lắm lắm; chỉ riêng có Godu-la điên khùng là đứng một mình trên sân thượng, mắt nhìn sao, tay quay vòng luân hồi, miệng cười an nhiên, chẳng màn để ý đến bao nhiêu rầm rộ dưới nhà. Nhưng không chỉ riêng ông là không thích xem đá bóng đâu. Còn có Nyima nữa, cậu bé cứ nằng nặc đòi lại chiếc đồng hồ, tuy được dành cho chỗ ngồi tốt.

Phim gửi đi thông điệp "Phiền não trên thế gian này vô tận, ta không làm sao giải quyết hết cho được. Vậy thì chỉ có việc là tự mình phải có thái độ giải thoát cho chính mình mới không bị phiền não quấy nhiễu".
Sau một hồi reo hò la hét thỏa thích, Orgyen quay đầu nhìn hai cậu cháu, Palden thì cứ dỗ ngọt, Nyima thì cứ nhăn nhó như muốn khóc. Anh chàng lém lỉnh cảm thấy không còn hứng thú, lặng lẽ bỏ ra, chạy về phòng, lật trong quyển kinh tìm thêm được một ít đồng, gãi đầu suy nghĩ một lúc rồi cúi xuống lôi dưới gầm giường ra một túi vải có lẽ là gia tài duy nhất. Lama trụ trì già, xem một hồi không hiểu gì cả, nhìn qua nhìn lại, không thấy Orgyen đâu, khều nhẹ tri sự, thế là Geko-la phải bỏ xem trận cuối, đi ra.
Anh chàng Orgyen lém lỉnh bây giờ gương mặt thật nghiêm túc, lôi trong túi vải ra một đôi giày mới, một con dao còn nằm trong bọc thì Geko-la bước vào, trợn mắt la:
- Làm chi đó? Quậy phá đòi hỏi cho đã đời rồi trốn núp trong đây?
- Chiếc đồng hồ của Nyima! Nếu không có tiền để chuộc thì sáng mai phải mất.
Geko-la bước đến cầm túi vải, lôi giày ra nhìn xong để qua một bên, rồi cầm con dao lên, ngắm nghía:
- Con dao này là của mẹ con cho mà!
Mặt Orgyen như muốn khóc. Gương mặt nghiêm khắc của Geko-la cũng dịu lại; sư xoa đầu Orgyen:
- Con là một tên lái buôn tào lao, nhưng chắc chắn sẽ là một nhà tu hiền từ. Thôi đừng lo, để thầy và trụ trì hùn nhau chuộc lại đồng hồ của Nyima cho.
Bản nhạc “Ðại lực, bài ca từ nóc nhà trần gian” (Mahakala, Chants from the Roof of the World) chợt đánh lên tưng bừng, đưa phim vào phần kết thúc một cốt chuyện thật giản dị bình thường như cuộc sống tu hành bình thường giản dị của các tăng sinh tu viện Peme, ngoại trừ mỗi 4 năm có chiếc Cúp cho trận bóng đá quốc tế thì không kể.
Phim có một cảnh làm lễ uy nghiêm; toàn thể chư tăng đều có mặt; ngồi hai hàng đầu đều đội hoàng mạo cao ngất, giọng tụng kinh trầm hùng giữa âm hưởng vun vút của những pháp khí, quả là một cảnh tượng gây nhiều cảm xúc. Trong khi đó, ở những hàng sau thì các anh chàng mặc sức quậy phá. Lodo phóng cho Orgyen tờ giấy nhỏ, hỏi thăm diễn tiến các trận đấu ra sao; anh chàng Orgyen này mỗi lần được sai đạp xe xuống chợ mua thức ăn thì thường tấp qua nơi có TV chiếu các trận bóng, cho nên rất là thành thạo và được cử làm thủ lãnh, tuy là tuổi nhỏ hơn cả đám.
Chàng Cheying Pading thì gật gù ngáy vang, khiến Geko-la ở hàng đầu quay lại, gương mặt giận dữ, liệng cho một nắm gạo để đánh thức. Ở một cảnh sau, cũng trên chánh điện làm lễ, Cheying còn bị một bạn đồng môn đùa. Nhưng cũng chính anh chàng gà gật này, ở cuối chuyện phim, lại phá được một “công án” hóc búa. Khi tất cả đều được xem trận đấu chung kết vô cùng hào hứng rồi thì phải xách y áo miễn cưỡng ngồi vào lớp học y theo lời hứa. Orgyen ngồi đó lơ là, tay xếp giấy làm chong chóng để tặng cho Nyima. Sư Chonjor-la hỏi:
- Mặt đất này lồi lõm gồ ghề, đi rất đau chân. Da thuộc thì rất mềm mại. Làm sao có thể trải da thuộc bao bọc hết mặt đất để đi cho êm chân?
Các anh chàng ngáo ộp nhìn nhau ngớ ngẩn, núp phía sau lưng Lodo đang thừ người suy nghĩ, Cheying ngẩng đầu lên, hai mắt sáng trưng, dơ tay lên, thưa:
- Vậy thì mình cứ làm đôi giày da, mang đi trên mặt đất gồ ghề thì êm chân ngay.
Sư Chonjor-la gật đầu:
- Ðúng vậy. Cuộc đời cũng như thế. Phiền não trên thế gian này vô tận, ta không làm sao giải quyết hết cho được. Vậy thì chỉ có việc là tự mình phải có thái độ giải thoát cho chính mình mới không bị phiền não quấy nhiễu.
Một lời khai thị vô cùng thâm mật mà chỉ riêng tự mình biết tu tập, có kinh nghiệm tu chứng mới có thể giải thoát khỏi mọi phiền não thế gian. Thiên kinh vạn điển, những triết lý siêu việt, những lời giảng pháp thâm sâu, hay những luận biện thao thao, chẳng qua cũng chỉ là những lý thuyết suông.

Bản nhạc “Ðại lực, bài ca từ nóc nhà trần gian” (Mahakala, Chants from the Roof of the World) chợt đánh lên tưng bừng, đưa phim vào phần kết thúc một cốt chuyện thật giản dị bình thường như cuộc sống tu hành bình thường giản dị của các tăng sinh tu viện Peme
Trọn phim chỉ có một vài giây, không đến một phút, chiếu cảnh Ronaldo làm bàn, khán giả la hét rầm trời. Phim đã dứt rồi, màn ảnh trổ đen, nhạc “Ðại lực” đang rập ràng mà vẫn còn một vài dòng chữ ghi nhận :
- “Sư trụ trì cuối cùng cũng đã được hồi hương, hoàn thành tâm nguyện trong đời ông”. Như thế, chắc là với đầu óc bảo thủ Chonjor-la sẽ còn có dịp truyền thừa Phật giáo cẩn mật theo truyền thống như xưa.
- “Orygen thì vẫn còn ôm mộng một ngày nào đó anh sẽ là huấn luyện viên cho một đội bóng được vào chung kết giải bóng đá quốc tế”. Mơ mộng thì mơ mộng, nhưng chắc cũng không đến nổi viễn vông.
(Việt Đạo am, Houston, TX, 15-5-2015)
tản mạn của Ngu Thả Ðộn
28 phút trước
52 phút trước
46 phút trước
55 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước