🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Cần cơ chế giúp các dự án hydrogen tiếp cận vốn xanh

6 giờ trước
Một số chuyên gia kinh tế cho rằng, hydrogen vẫn là thị trường mới tại Việt Nam nên rất cần cơ chế hỗ trợ của Nhà nước, cả về đầu tư ban đầu lẫn tạo thị trường tiêu thụ.

Thành phố Hồ Chí Minh hướng đến hệ sinh thái công nghệ năng lượng tái tạo xanh. Ảnh: Lưu Niệm

Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội lớn để phát triển ngành công nghiệp hydrogen nhờ tiềm năng về năng lượng tái tạo như: Thủy điện, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời và các nguồn năng lượng sạch khác.

Không chỉ các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có nhiều cơ hội tham gia vào từng mắt xích của chuỗi cung ứng như vận chuyển, lưu trữ, phân phối hay cung cấp các dịch vụ kỹ thuật. Đây đều là những lĩnh vực có dư địa phát triển khi thị trường hydrogen được hình thành.

Tại Diễn đàn về năng lượng hydrogen và tương lai công nghiệp không phát thải mới đây, PGS. Phạm Hoàng Lương, Giảng viên cao cấp, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, công nghiệp hydrogen của Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, với sản lượng sản xuất hàng năm khoảng 500.000 tấn chủ yếu từ than (hydrogen nâu) và từ khí tự nhiên không thu hồi carbon (hydrogen xám) phục vụ nhu cầu nội địa cho 2 lĩnh vực lọc hóa dầu và sản xuất phân bón.

Trong khi chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đạt sản lượng sản xuất hydrogen xanh từ nguồn năng lượng tái tạo và hydrogen từ các quá trình khác có thu giữ carbon từ 100.000 - 500.000 tấn/năm vào năm 2030; 10 - 20 triệu tấn/năm vào năm 2050.

“Việt Nam đang sở hữu nền tảng tài nguyên điện mặt trời, điện gió đủ lớn để đáp ứng mục tiêu sản xuất 10 - 20 triệu tấn hydrogen phát thải thấp/năm đến năm 2050. Hạ tầng truyền tải điện, năng lực công nghiệp điện phân nội địa và khung pháp lý về tiêu chuẩn và giá hydrogen xanh là 3 nút thắt lớn nhất cần tháo gỡ trong giai đoạn 2024 - 2030”, PGS. Phạm Hoàng Lương chia sẻ.

Theo TS. Nguyễn Hữu Lương, Chuyên gia cao cấp về Hydrogen, Viện Dầu khí Việt Nam, trên thế giới, hydrogen được xác định là một trong những giải pháp trọng điểm để giảm phát thải trong lĩnh vực giao thông vận tải. Muốn phát triển hiệu quả, không thể chỉ tập trung vào phương tiện mà phải phát triển đồng bộ toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất, vận chuyển, lưu trữ, phân phối cho đến tiêu dùng.

Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Việt Nam cũng cần lựa chọn những phân khúc giao thông phù hợp để ưu tiên đầu tư thay vì triển khai dàn trải. “Bên cạnh đó, hydrogen không chỉ phục vụ giao thông mà còn liên quan đến nhiều ngành khác như: Năng lượng, công nghiệp và hóa chất. Vì vậy, chính sách phát triển cần được xây dựng theo hướng liên ngành để tạo nên hệ sinh thái hoàn chỉnh”, TS. Nguyễn Hữu Lương đề xuất.

Để hiện thực hóa mục tiêu sản xuất 100.000 - 500.000 tấn hydrogen/năm vào năm 2030, TS. Nguyễn Hữu Lương cho rằng, Việt Nam cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi.

Thứ nhất, chi phí sản xuất hydrogen hiện vẫn cao hơn nhiên liệu truyền thống nên cần có cơ chế hỗ trợ đầu tư trong giai đoạn đầu đối với toàn bộ chuỗi giá trị; thứ hai là đầu tư hạ tầng.

Về lâu dài, Việt Nam cũng cần từng bước làm chủ công nghệ sản xuất và ứng dụng hydrogen nhằm giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh và hạn chế phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu.

“Việt Nam nên ưu tiên ứng dụng hydrogen đối với xe buýt liên tỉnh và xe tải tải trọng lớn chạy đường dài. Đây là những phương tiện cần quãng đường di chuyển lớn, thời gian tiếp nhiên liệu nhanh và tải trọng cao, những ưu điểm nổi bật của công nghệ hydrogen. Ngoài giao thông đường bộ, Việt Nam cũng nên nghiên cứu ứng dụng hydrogen trong hàng hải và hàng không thông qua các loại nhiên liệu tổng hợp được sản xuất từ hydrogen”, TS. Nguyễn Hữu Lương đề xuất.

Từ kinh nghiệm quốc tế, một số chuyên gia cho rằng, để có thể tiếp cận nguồn vốn xanh, trước hết Việt Nam phải có hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn rõ ràng để xác định thế nào là hydrogen xanh, hydrogen sạch hay hydrogen phát thải carbon thấp. Nhiều quốc gia hiện quy định rất cụ thể ngưỡng phát thải CO₂ trong quá trình sản xuất hydrogen.

Trong khi đó hiện nay, kinh tế Việt Nam vẫn dựa chủ yếu (84%) vào nguồn năng lượng hóa thạch. Tổng mức phát thải hiện tại của Việt Nam đạt khoảng trên 500 triệu tấn CO2/năm và dự báo đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên gần gấp đôi, chạm mốc khoảng 1 tỷ tấn CO2/năm.

Dù đối mặt với áp lực gia tăng phát thải, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ thông qua cam kết Net Zero vào năm 2050. Chính phủ đã ban hành hàng loạt văn bản chính sách quan trọng, điển hình như Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2025 (Quy hoạch điện 8) với việc đặt ra tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo rất cao. Cùng với đó, Việt Nam đã ký kết Thỏa thuận Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng (JETP) nhằm huy động khoản hỗ trợ tài chính trị giá 15,8 tỷ USD.

Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ